- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Đức G - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đào Đức G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2019/HS-ST Ngày: 07 - 3 - 2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Trần Thị Bảo Hồng.
2/ Bà Nguyễn Thị Kính.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 10/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 37/2019/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:
Đào Đức G; giới tính: Nam; sinh năm: 1982; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: 228 Đường số 10, phường PB, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; học vấn: 10/12; con ông Đào Đức T1 và bà Vũ Thị Thu H; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đào Đức T1; sinh năm: 1955; nơi cư trú: 228 Đường số 10, phường PB, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 12/10/2018, tại trước số 01 Ngô Sĩ Liên, Phường MB, Quận T, tổ tuần tra Công an Phường MB, Quận T nghi vấn Đào Đức G có liên quan đến ma túy nên kiểm tra thì phát hiện và thu giữ trong túi quần bên trái của G 01 gói nylon bên trong chứa chất bột màu trắng (G khai là ma túy để sử dụng), tạm giữ của G 01 xe gắn máy biển số 54X2-8521.
Theo bản Kết luận giám định số 1695/KLGĐ-H ngày 18/10/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
Bột màu trắng trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đào Đức G và hình dấu Công an Phường MB, Quận T là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4182g, loại Heroine.
Đào Đức G khai nhận: Do cần ma túy để sử dụng, khoảng 07 giờ 20 phút ngày 12/10/2018, G điều khiển xe gắn máy biển số 54X2-8521 đến khu vực ngã tư quốc tế giữa hẻm HT và hẻm BĐ, Phường MB, Quận T gặp và mua của một người phụ nữ (không rõ lai lịch) 01 gói Heroine giá 400.000 đồng. G cất ma túy vào túi quần bên trái đi về đến trước nhà số 01 Ngô Sĩ Liên, Phường MB, Quận T thì bị Công an kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.
Về vật chứng thu giữ:
01 xe gắn máy biển số 54X2-8521 qua điều tra, xác minh do ông Đào Đức T1 (cha ruột Đào Đức G) đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Ngày 12/10/2018, G mượn xe, sau đó đi mua ma túy ông T1 không biết. Cơ quan điều tra Công an Quận T đã lập biên bản trao trả chiếc xe biển số 54X2-8521 cho ông Đào Đức T1, ông T1 không có yêu cầu gì.
Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 11/01/2019 Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Đào Đức G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa,
Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù theo điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về vật chứng vụ án:
01 xe gắn máy biển số 54X2-8521 đã trả cho chủ sở hữu nên không đề cập giải quyết.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong chứa ma túy.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét thấy, khoảng 08 giờ ngày 12/10/2018, tại trước số 01 Ngô Sĩ Liên, Phường MB, Quận T, Công an thu giữ của Đào Đức G 01 gói nylon bên trong chứa ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4182g, loại Heroine để sử dụng. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét thấy, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét thấy, hành vi của bị cáo không có thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử không phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo, qua điều tra không xác định được lai lịch, Cơ quan điều tra Công an Quận T không có căn cứ để xử lý nên không đề cập giải quyết.
Về vật chứng vụ án:
01 xe gắn máy biển số 54X2 – 8521 đã trả cho chủ sở hữu nên không đề cập giải quyết.
01 gói niêm phong chứa ma túy là vật cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Theo điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đào Đức G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đào Đức G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bên ngoài ghi số 1695/2018/Q8 có các chữ ký ghi tên Đào Đức G và hình dấu Công an Phường MB, Quận T, chữ ký Giám định viên Phan Tấn Quốc và cán bộ điều tra Nguyễn Huy Long.
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 38/PNK ngày 27/12/2018 của Cơ quan Công an Quận T).
Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tp.Hồ Chí Minh; (1) - VKSND Tp.Hồ Chí Minh; (1) - VKSND Quận T; (2) - Chi cục THADS Quận T; (1) - Sở Tư pháp Tp.Hồ Chí Minh; (1) - Phòng hồ sơ NVCS (PC.53); (1) - Cơ quan điều tra Công an Quận T (Đội ĐTTH); (1) - Nhà tạm giữ Quận T; (1) - Thi hành án hình sự; (3) - Bị cáo; (1) - Những người tham gia tố tụng khác; (1) - Lưu VT, hồ sơ vụ án. (2) (16) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Bá Hiệp |