- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Trọng Nghĩa - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Trọng Ngh phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2019/HS-ST Ngày: 22/3/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGH VIỆT NGH
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Ngọc Cư
Ông Nguyễn Như Bình
- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Hoàng Hà – Thư ký Toà án nhân dân quận Tây Hồ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh- Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 03 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 160/2018/TL ST - HS ngày 01 tháng 10 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27A/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2019/HSST – QĐ đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Trọng Ngh, sinh năm: 1987; Nơi ĐKHKTT: Số 13 Hàng Đ, phường Đ, quận H, thành phố H Nghề nghiệp: không; Tr×nh ®é văn hóa: 12/12 ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Minh T, sinh năm 1962 và bà Đào Thị Lan H, sinh năm 1968; Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 221 do Công an quận Tây Hồ lập ngày 14/7/2018 và lý lịch do địa phương cung cấp thể hiện bị cáo không có tiền án, tiền sự; Nhân thân: Không có tiền án, tiền sự. Bị cáo bị bắt ngày 01/6/2018 đến ngày 08/6/2018, hiện bị cáo đã bỏ trốn. (Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08h00 ngày 01/6/2018, Trần Trọng Ngh tới khu vực quán Internet khu vực Phó Đức Chính với mục đích gặp bạn xã hội tên Vũ để vay tiền. Sau đó, Ngh và Vũ đi ăn sáng thì Vũ rủ Ngh về nhà Vũ để sử dụng ma túy. Ngh đồng ý và cả hai đi xe máy của Vũ về nhà Vũ ở khu vực đầu ngõ 310 Nghi Tàm, phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội. Khi tới đầu ngõ, Vũ đưa cho Ngh 01 túi nilong màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng, Ngh hiểu đó là ma túy để cả hai cùng sử dụng ma túy và cất vào túi quần bên phải Ngh đang mặc. Vũ bảo Ngh chờ để Vũ vào nhà xem vợ có nhà không rồi vào nhà sau. Khi Ngh đang đứng đợi Vũ bị Tổ công tác Công an phường Quảng An kiểm tra hành chính. Ngh đã tự nguyện giao nộp 01 túi nilong màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng. Ngh tự khai nhận là ma túy Hêrôin mua để sử dụng. Cơ quan công an đã lập biên bản niêm phong thu giữ số ma túy này để xử lý.
Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét tại chỗ ở của Trần Trọng Ngh tại Số 3 ngách 15 ngõ 29 Ngh Dũng, phường Phúc Xá, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
* Vật chứng thu giữ của Ngh: 01 gói nilon mầu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; 01 ( một) ví giả gia màu đen trên ví có in chữ TIDANY3; 01 căn cước công dân số 001087010223 mang tên Trần Trọng Ngh; 10.000 đồng (Mười nghìn đồng); 01 (Một) điện thoại di động Nokia, có vỏ màu đen không có ốp phía sau máy có số imei: 358254/04/910337/8.
Tại Kết luận giám định số 5160/KLGĐ-PC54 ngày 08/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilong là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,234 gam.
Đối với đối tượng Vũ là người đưa ma túy cho Trần Trọng Ngh, Ngh khai nhận không biết tên tuổi địa chỉ của Vũ. Ngh chỉ biết nhà Vũ ở khu vực ngõ 310 Nghi Tàm phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội nhưng không biết cụ thể ở đâu. Đặc điểm nhận dạng của Vũ khoảng 35- 40 tuổi dáng người gầy, cao, khoảng 1m70, tóc để ngôi. Tại biên bản kiểm tra điện thoại ngày 01/6/2018 (Bút lục 34) thể hiện: Trần Trọng Ngh dùng số thuê bao 0986987270 liên lạc với đối tượng Vũ có số điện thoại 01674762965. Cơ quan điều tra đã xác minh thông tin chủ thuê bao số điện thoại 01674762965, kết quả đăng kí thuê bao là chị Đoàn Phương D, sinh năm: 1985, nơi cư trú: 53 Đê Y, phường Y, quận T, thành phố H. Chị D trình bày: Chị D không đăng kí chủ thuê bao số điện thoại 01674762965, không biết ai tên là Vũ có đặc điểm nhận dạng như Trần Trọng Ngh trình bày. Vì vậy, Cơ quan điều tra chưa xác định được đối tượng tên Vũ.
Bản cáo trạng số 144/CT - VKSTH ngày 24 tháng 9 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ đã truy tố bị cáo Trần Trọng Ngh về tội : “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Trọng Ngh đã đủ yếu tố cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Áp dụng Điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Về hình phạt đề nghị xử phạt Trần Trọng Ngh từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng
Về vật chứng: + Đề nghị tịch thu tiêu hủy một bao niêm phong được dán kín có chữ ký của bị can Trần Trọng Ngh, giám định viên và dấu của cơ quan điều tra.
+ Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 10.000 đồng (Mười nghìn đồng); 01 (Một) điện thoại di động Nokia.
+ Trả lại Trần Trọng Ngh 01 ( một) ví giả gia màu đen trên ví có in chữ TIDANY3; 01 căn cước công dân số 001087010223 mang tên Trần Trọng Ngh vì không liên quan đến việc phạm tội.
Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Tây Hồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo đã khai báo và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Ngày 04 tháng 10 năm 2018, Tòa án đã ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2018/ HSST – QĐ đối với bị cáo Ngh. Tại biên bản làm việc ngày 17/10/2018 của Tòa án với Công an phường Phúc Xá, quận Ba Đình, Hà Nội thể hiện bị cáo Ngh đã bỏ đi khỏi nơi cư trú. Vì vậy, Tòa án đã ra quyết định hoãn phiên tòa, quyết định tạm đình chỉ và có công văn đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tây Hồ ra quyết định truy nã đối với Ngh. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tây Hồ đã có quyết định truy nã số 04 ngày 26/12/2019. Ngày 15/02/2019, Cơ quan điều tra đã có công văn số 348/CV ngày 15 tháng 12 năm 2019 về việc chưa bắt được bị cáo. Cùng ngày, Tòa án đã ra quyết định phục hồi vụ án. Ngày 18/02/2019, Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử vào hồi 08 giờ 30 ngày 06/03/2019, nhưng bị cáo vẫn vắng mặt nên Tòa án đã ra quyết định hoãn phiên tòa số 10/2019/HSST – QĐ. Tại phiên tòa ngày 22/3/2019, bị cáo Ngh vẫn vắng mặt. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt bị cáo là đúng với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi của bị cáo: Xét lời khai nhận của bị cáo Ngh tại cơ quan điều tra phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm Sát đã truy tố.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trần Trọng Ngh có hành vi tàng trữ 0,234 gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Do đó, ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n quËn Tây Hồ, thành phố Hà Néi đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo Trần Trọng Ngh về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội .
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã cố ý xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội được bộ luật Hình sự bảo vệ. Bị cáo đã được cơ quan điều tra áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng trong quá trình xét xử bị cáo đã bỏ trốn, điều đó thể hiện bị cáo rất coi thường pháp luật và cố ý gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng. Xét hành vi và tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo đã gây ra, với trọng lượng 0,234 gam ma túy loại Methamphetamine. Cần áp dụng một hình phạt tù trong khung hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, mặc dù bị cáo thành khẩn khai báo nhưng trong quá trình xét xử, bị cáo lại cố tình bỏ trốn, gây cản trở cho việc xét xử nên bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về hình phạt bổ sung như hình phạt tiền phạt tiền: Xét thấy bị không có tài sản, không có thu nhập nên không áp dụng.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về vật chứng:
+ Cơ quan điều tra đã bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự quận Tây Hồ một bao niêm phong được dán kín có chữ ký của bị can Trần Trọng Ngh, giám định viên và dấu của cơ quan điều tra. Đây là vật chứng của vụ án nên cho tịch thu, tiêu hủy.
+ Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 10.000 đồng (Mười nghìn đồng); 01 (Một) điện thoại di động Nokia, có vỏ màu đen không có ốp phía sau máy có số imei: 358254/04/910337/8.
+ Trả lại Trần Trọng Ngh 01 ( một) ví giả gia màu đen trên ví có in chữ TIDANY3; 01 căn cước công dân số 001087010223 mang tên Trần Trọng Ngh vì không liên quan đến việc phạm tội.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Bị cáo phải chịu án phí HSST theo Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1.Tuyên bố bị cáo Trần Trọng Ngh phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt: Bị cáo Trần Trọng Ngh 20 ( Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày ngày 01/6/2018 đến ngày 08/6/2018.
2. Về hình phạt bổ sụng: Không áp dụng
3.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015
+ Tịch thu tiêu hủy: Một bao niêm phong được dán kín có chữ ký của bị can Trần Trọng Ngh, giám định viên và dấu của cơ quan điều tra.
+ Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 10.000 đồng (Mười nghìn đồng); 01 (Một) điện thoại di động Nokia, có vỏ màu đen không có ốp phía sau máy có số imei: 358254/04/910337/8.
+ Trả lại bị cáo Trần Trọng Ngh 01 ( một) ví giả gia màu đen trên ví có in chữ TIDANY3; 01 căn cước công dân số 001087010223 mang tên Trần Trọng Ngh vì không liên quan đến việc phạm tội.
(Tang vật trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Tây Hồ, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/9/2018 và Tại kho bạc nhà nước Tây Hồ theo biên bản giao nhận tài sản số 85/8629/BBGN - KBNN)
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về chế độ án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Trọng Ngh phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
Án xử công khai sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát ND Q. Tây Hồ -Viện kiểm sát NDTP Hà Nội; - Công an Q.Tây Hồ; - Chi cục THADS Q. Tây Hồ; - Thi hành án hình sự; - Trại tạm giam số 1- Công an thành phố Hà Nội; -Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Giang |