vanban.org

Bản án 30/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 15/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Chu Quang C phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Chu Quang C 02 (hai) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/01/2019. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại đã qua giám định đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi chữ “QT Chu Quang C”; 01 (một) chiếc kéo cán bằng nhựa, màu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Quang C phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chu Quang C phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN LÃNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2019/HS-ST.
Ngày 15 - 5 – 2019.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nông Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lý Văn Ninh;

Bà Nguyễn Thị Hợp.

- Thƣ ký phiên toà: Ông Vũ Sơn Lâm- Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Vi Thế Cường - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Thanh Long, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2019/HSST ngày 26 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2019/HSST - QĐ ngày 02 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Chu Quang C, sinh ngày 01/02/1990; tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi đang sinh sống: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; trình độ văn hoá: 7/12; con ông Chu Văn V và bà Nguyễn Thị G; vợ: Nông Thị S; con: Có 01 con; tiền án: Có 01 tiền án: Tại bản án số 26/2010/HS-ST ngày 20/7/2010 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo 08 tháng tù giam về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, buộc phải bồi thường cho người bị hại 2.000.000 đồng và phải nộp các khoản tiền án phí, bị cáo hiện đã chấp hành xong hình phạt tù, nộp các khoản án phí còn về phần bồi thường bị cáo chưa bồi thường số tiền 2.000.000 đồng cho người bị hại (thuộc trường hợp tái phạm); tiền sự: Không; nhân thân: Đã bị xử lý hình sự; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2019 đến nay. Có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Hà Văn N, sinh năm 1978; trú tại: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 10 giờ 50 phút ngày 02/01/2019, tại khu vực thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, Tổ công tác Công an huyện Văn Lãng đã phát hiện bắt quả tang Chu Quang C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để sử dụng. Vật chứng thu giữ: 06 (sáu) gói bên trong đều chứa chất bột màu trắng, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen đã qua sử dụng, kèm theo sim Viettel và 1.500.000 đồng; khám xét nơi ở thu giữ 01 (một) chiếc kéo cán bằng nhựa, màu xanh, 13 (mười ba) ống hút bằng nhựa màu trắng dài khoảng 20 cm và 01 (một) ống hút bằng nhựa màu trắng dài 7 cm đã cắt nhọn một đầu.

Tại bản Kết luận giám định số 61/KL - PC09 ngày 04/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng là 0,211 gam (đã trừ bì).

Tại bản cáo trạng số 25/CT- VKS- HS ngày 28/3/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Chu Quang C về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Chu Quang C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung đã nêu ở trên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Chu Quang C phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Chu Quang C mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù giam;

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo là người nghiện ma túy, bản thân không có tài sản hoặc đứng tên đăng ký tài sản gì có giá trị.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng đề nghị tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại đã qua giám định đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi chữ “QT Chu Quang C”, 01 (một) chiếc kéo cán bằng nhựa, màu xanh, 13 (mười ba) ống hút bằng nhựa màu trắng dài khoảng 20 cm và 01 (một) ống hút bằng nhựa màu trắng dài 7 cm đã cắt nhọn một đầu; trả lại bị cáo Chu Quang C 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen đã qua sử dụng, kèm theo sim Viettel và 1.500.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong lời nói sau cùng bị cáo Chu Quang C đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận: Vào hồi 10 giờ 50 phút ngày 02/01/2019, tại khu vực thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, Tổ công tác Công an huyện Văn Lãng đã phát hiện bắt quả tang Chu Quang C có hành vi tàng trữ trái phép 0,211 gam chất ma túy Heroine, mục đích để sử dụng. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng truy tố bị cáo về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo Chu Quang C nhận thức được hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là vi phạm pháp luật, nhưng muốn có ma túy sử dụng cho bản thân bị cáo đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây nguy hại đến trật tự, an ninh. Ma tuý là các hỗn hợp chất hoá học, có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp nhân tạo, gây kích thích hoặc ức chế thần kinh. Khi ma tuý xâm nhập vào cơ thể, có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, khiến con người bị lệ thuộc vào nó. Ma tuý không chỉ huỷ hoại sức khoẻ mà còn làm suy thoái nòi giống, tàn phá phẩm giá và nhân cách của con người. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự khu vực dân cư, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh trong khu vực. Do đó, khi lượng hình cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm mục đích cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng về nhân thân: Ngày 20/7/2010 bị cáo Chu Quang C bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng xử phạt 08 tháng tù giam về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chấp hành xong hình phạt tù, tiền án phí nhưng chưa chấp hành khoản bồi thường dân sự cho người bị hại. Do vậy, bị cáo là người có nhân thân xấu; về tình tiết tăng nặng: Tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, có căn cứ cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Về hình phạt bổ sung: Theo biên bản xác minh ngày 28/01/2019 cho thấy bị cáo hiện là người nghiện ma túy, bản thân không có tài sản hoặc đứng tên tài sản gì có giá trị. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Chu Quang C.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, Hội đồng xét xử thấy: Đối với số ma túy còn lại đã qua giám định đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi chữ “QT Chu Quang C” đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành. Tịch thu, tiêu hủy; đối với 01 (một) chiếc kéo cán bằng nhựa, màu xanh, 13 (mười ba) ống hút bằng nhựa màu trắng dài khoảng 20 cm và 01 (một) ống hút bằng nhựa màu trắng dài 7 cm đã cắt nhọn một đầu đây là vật không có giá trị sử dụng. Tịch thu, tiêu hủy; đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen đã qua sử dụng, kèm theo sim Viettel và 1.500.000 đồng, không phải là vật chứng đây là tài sản và tiền không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Trả lại bị cáo Chu Quang C.

Về án phí: Bị cáo Chu Quang C bị kết án. Do đó, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng. Xét thấy, đề nghị đưa ra là có căn cứ, nên được chấp nhận.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 và các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Chu Quang C phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Chu Quang C 02 (hai) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/01/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại đã qua giám định đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi chữ “QT Chu Quang C”; 01 (một) chiếc kéo cán bằng nhựa, màu xanh, 13 (mười ba) ống hút bằng nhựa màu trắng dài khoảng 20 cm và 01 (một) ống hút bằng nhựa màu trắng dài 7 cm đã cắt nhọn một đầu.

Trả lại cho bị cáo Chu Quang C 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen đã qua sử dụng, kèm theo sim Viettel và số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng.

(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lãng theo nội dung biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/3/2019 và nội dung Ủy nhiệm chi ngày 29/3/2019).

3. Về án phí: Bị cáo Chu Quang C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm sung Ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ