vanban.org

Bản án 30/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 27/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Tạ Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt : Bị cáo Tạ Văn T 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 20/4/2019. Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tạ Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH SƠN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:30/2019/HS-ST
Ngày: 27/6/2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên Hòa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Quảng, bà Lỗ Thị Quỳnh Nga

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tuấn Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lương Ngọc Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Tạ Văn T (Tên gọi khác: Không có); Sinh ngày: 05 tháng 01 năm 1997; Nơi ĐKNKTT: phố T Th, t t Th S, huyện Th S, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 11/12; Đoàn thể: Quần chúng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Tạ Văn Th, sinh năm 1963; Mẹ đẻ: Đỗ Thị H, sinh năm 1968; Vợ, Con: chưa có; Anh (chị) em ruột: có hai anh em; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/4/2019 đến ngày 23/4/2019 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Thanh Sơn; (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Chung Th - SN:

1992 ( Vắng mặt) Địa chỉ: Khu 15, xã Th L, huyện Th S, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 19/4/2019 khi gặp nhau, do quen biết từ trước và biết nhau nghiện ma túy nên Thành đã hỏi T mua ma túy đá để sử dụng. T đồng ý bán ma túy và hẹn ngày hôm sau sẽ bán ma túy cho Th. Đến sáng ngày 20/4/2019, T đi xe ô tô khách xuống khu vực đường Văn Cao, thành phố Hà Nội rồi xuống xe. Tại đây T tình cờ gặp một nam thanh niên không quen biết, không biết tên, tuổi, địa chỉ đứng ở ngoài đường. Qua nói chuyện T biết người nam thanh niên này có ma túy đá bán nên T đã mua với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T bắt xe ô tô khách về thị trấn Thanh Sơn và lấy gói ma túy đá vừa mua được sử dụng hết một nửa, số ma túy còn lại T gói vào một gói nilon màu trắng, viền xanh. Đến khoảng 20 giờ ngày 20/4/2019 T gọi điện cho Th hẹn gặp để mua bán ma túy, Th trả lời đang đi từ Tam Nông về và bảo T đợi. Khoảng 10 phút sau Th gọi điện hẹn T xuống đầu cầu 30/4 thuộc khu Soi Cả, xã Sơn Hùng để mua bán ma túy. T đi đền khu vực đầu cầu gặp Th, Th đưa cho T số tiền 1.000.000 đồng, T cầm tiền và đưa cho Th 01 gói ma túy. Khi T và Th đang mua bán ma túy thì bị Công an huyện Thanh Sơn bắt quả tang. Thu giữ trên người Th 01 gói nilon màu trắng, viền màu xanh, bên trong gói nilon có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 điện thoại di động Iphone 6 màu đen. Th tự khai đây là ma túy đá vừa mua của T với giá 1.000.000 đồng. Thu giữ trên người T 1.000.000 đồng gồm 05 tờ tiền polime mệnh giá 200.000 đồng và 01 điện thoại Nokia 105 màu đen. T khai nhận đây là tiền vừa bán ma túy cho Th có được. Công an huyện Thanh Sơn đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và đưa T, Th về trụ sở Công an huyện Thanh Sơn làm việc.

Ngày 21/4/2019 Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Sơn đã yêu cầu phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ giám định: chất rắn dạng tinh thể màu trắng có trong gói nilon màu trắng, viền xanh thu giữ của Hoàng Chung Th. Tại bản KLGĐ số 544/KLGĐ ngày 23/4/2019 phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:

“Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa bên trong gói nilon gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là: 0,086gam, loại Methamphetamine .

Methamphetamine: là chất ma túy nằm trong Danh mục số II, số thứ tự 323, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Hoàn trả lại đối tượng giám định: 0,052 gam chất chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong, dán kín trong 01 bì giấy có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng KTHS - Công an tỉnh Phú Thọ và các chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán.

Ngày 23/4/2019, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Sơn đã ra Quyết định KTVAHS, Khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam đối với Tạ Văn T về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, Tạ Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi bán trái phép chất ma túy cho Hoàng Chung Th như đã nêu trên. T khai mục đích bán ma túy cho Th để lấy tiền tiếp tục mua ma túy về sử dụng. Th khai mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân do Th nghiện ma túy.

Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 31 tháng 5 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn truy tố bị cáo Tạ Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn không thay đổi, bổ sung cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tạ Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 - Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Tạ Văn T từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 20/4/2019.

Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng đối với bị cáo

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: Số ma túy hoàn trả sau giám định; Và: 01 sim điện thoại có số thuê bao 0968.488.897 thu giữ của bị cáo Tạ Văn T; 01 sim điện thoại có số thuê bao 0971.288.525 thu giữ của Hoàng Chung Th

Tịch thu, sung quỹ Nhà nước: 1.000.000đ (Một triệu đồng);

Bán sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Tạ Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Hoàng Chung Th.

Bị cáo T không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận hành vi vi phạm pháp luật của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng. Hành vi của bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật, các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở kết luận: Ngày 20/4/2019 tại khu Soi Cả, xã Sơn Hùng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, Tạ Văn T đã có hành vi bán trái phép 0,086 gam Methamphetaminee cho Hoàng Chung Th với giá 1.000.000đ. Hành vi phạm tội của Tạ Văn T đã bị Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Sơn bắt quả tang, thu giữ đầy đủ vật chứng. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luâ ̣n bị cáo Tạ Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Tính chất vụ án là nghiêm trọng bởi hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm gia tăng người nghiện các chất ma túy trong cộng đồng dân cư, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí lực của con người và từ ma túy đã làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Vì vậy cần phải xử phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Tạ Văn T chưa có tiền án, tiền sự nên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 - Bộ luật hình sự năm 2015.

. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 251- Bộ luật hình sự năm 2015 thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ thì bị cáo T không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp ổn định, hành vi phạm tội của các bị cáo thu lời không lớn, số tiền bán ma túy của các bị cáo ngày 20/4/2019 đã bị cơ quan điều tra thu giữ. Vì vậy Hội đồng xét xử thấy rằng không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.

Đối với Hoàng Chung Th là đối tượng nghiện ma túy. Qua xác minh Th chưa có tiền án, tiền sự, mục đích Th mua ma túy Methamphetamine của T để sử dụng cho bản thân, lượng ma túy Methamphetamine Th mua dưới 1 gam chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an huyện Thanh Sơn đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Chung Th về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, khoản 2, điều 21 Nghị định 167 của Chính phủ với mức phạt 1.500.000đ. Hiện tại Hoàng Chung Th không có mặt ở địa phương nên chưa thực hiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

. Về nguồn gốc số ma túy Methamphetamine Tạ Văn T bán cho Hoàng Chung Th ngày 20/4/2019, T khai sáng ngày 20/4/2019 mua của một nam thanh niên không biết tên, địa chỉ ở khu vực đường Văn Cao, thành phố Hà Nội với giá với giá 1.000.000đ, đây là lần đầu tiên T gặp người nam thanh niên này. Vì vậy, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Sơn không có đủ cơ sở để xác minh làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) bao gồm 5 tờ tiền 200.000đ thu giữ của T, đây là số tiền bị cáo T bán ma túy cho Th mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với các vật chứng là ma túy hoàn trả lại sau giám định. Đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với: 01 Một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Tạ Văn T; Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Hoàng Chung Th được sử dụng vào việc liên lạc giao dịch mua bán ma túy nên cần tịch thu bán sung công quỹ nhà nước là phù hợp.

Đối với: số sim 0968.488.897 thu giữ của Tạ Văn T; số sim 0971.288.525 thu giữ của Hoàng Chung Th. Xét thấy không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Tạ Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Tạ Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt : Bị cáo Tạ Văn T 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 20/4/2019.

Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng đối với bị cáo.

Áp dụng: Khoản 1,2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2, 3 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu, sung quỹ Nhà nước: 1.000.000đ (Một triệu đồng);

Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Tạ Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Hoàng Chung Th.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì giấy số 544/KLGĐ của phòng KTHS - Công an tỉnh Phú Thọ. Bì ghi: Hoàn lại 0,052 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng; cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong, dán kín trong vụ Tạ Văn T, Hoàng Chung Th có hành mua bán trái phép chất ma túy. Mặt sau của bì giấy có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng KTHS - Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán kín; 01 sim điện thoại có số thuê bao 0968.488.897 thu giữ của bị cáo Tạ Văn T; 01 sim điện thoại có số thuê bao 0971.288.525 thu giữ của Hoàng Chung Th

(Toàn bộ vật chứng trên hiện đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/6/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn. Vật chứng là tiền ®ang ® îc t¹m gi÷ ë tµi kho¶n t¹m thu sè 3941.0.9044309.00000 t¹i kho b¹c huyÖn Thanh S¬n, tØnh Phó Thä).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Tạ Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ