- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vì Văn B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vì Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 30/2019/HS-ST Ngày: 23/7 /2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP,TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dƣơng Ngọc Tam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Dƣỡng;
Ông Cầm Văn On.
Thư ký phiên toà: Bà Tòng Thị Duyên – Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên toà: Bà Lò Thị Kim – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La; xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 30/2019/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2019, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 106/QĐXXST-HS ngày 09/7/2019 đối với bị cáo:
Vì Văn B, tên gọi khác: Không, sinh ngày 07 tháng 12 năm 1981, tại xã M, huyện S , tỉnh Sơn La.
Nơi cƣ trú: Bản T, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng Trọt; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vì Văn Ch và bà Lò Thị L; có vợ và có 4 con; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân; bị bắt, tạm giam từ ngày 07/3/2019 cho đến nay, có mặt.
Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lò Thị Ƣ, sinh năm 1982, trú tại bản T, xã Mƣờng V, huyện sốp Cộp, tỉnh Sơn La, có mặt.
NỘI DỤNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 15 giờ ngày 06 tháng 3 năm 2019 Vì Văn B điều khiển xe máy của gia đình đến bản Nà Khi, xã Mƣờng Lạn để dự đám cƣới, khi về gặp và mua đƣợc 07 viên ma túy tổng hợp với số tiền 80.000 đồng của một ngƣời dân tộc Mông không quen biết mục đích để sử dụng cho bản thân, đã bị Công an huyện Sốp Cộp kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên trái đang mặc của B 01 gói ni lon màu xanh bên trong có 07 viên nén màu hồng B khai nhận là Hồng phiến và 01 xe máy nhãn hiệu HONDA WAE RSX màu đen trắng, 01 đôi găng tay màu nâu đen; Vật chứng đƣợc niêm phong theo quy định của pháp luật.
Hồi 15 giờ ngày 07/3/2019 tại phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, thành lập hội đồng mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định, xác định khối lƣợng vật chứng 07 viên ma tuý tổng hợp màu hồng của Vì Văn B có khối lƣợng 0,669 gam, đã trích hết 07 viên làm mẫu giám định ký hiệu B.
Tại bản kết luận giám định số 566 ngày 10/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: "Mẫu gửi giám định ký hiệu B là ma túy, loại Methamphetamine; Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,669gam". Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,669gam; loại Methamphetamine.
Bản cáo trạng số 30 /CT-VKS ngày 27 tháng 6 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Vì Văn B về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38 ; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Vì Văn B từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Vật chứng còn lại 01(một) chiếc phong bì màu trắng của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, đã niêm phong dán kín, mặt trƣớc phong bì ghi : « Vật chứng lƣu kho vụ : Vì Văn B, sinh năm 1981, trú tại bản Tông, xã Mƣờng Và hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt hồi 21 giờ 40 phút ngày 06/3/2019, bên trong có 01 phong bì thƣ niêm phong ban đầu, cùng 01 mảnh ni lon màu xanh ; 01 mảnh gói nilon màu hồng » và 01 đôi găng tay màu đen nâu. Các vật chứng đều không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
01(một) chiếc xe máy HONDA hiệu WAVE RSX màu đen trắng, biển kiểm soát 26F 1-093-79 tại hồ sơ và tại phiên tòa xác định đƣợc là tài sản chung của gia đình bị cáo, cần trả lại cho bà Lò Thị Ƣ là vợ của bị cáo.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH/14 ngày 30/12/2016; buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về nguồn gốc ma túy ; bị cáo khai mua của một ngƣời dân tộc Mông, không quen biết, ngoài lời khai của bị cáo không còn căn cứ khác chứng minh, nên cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp không có căn cứ để xử lý trong vụ án.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai nhận của bị cáo, vật chứng của vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đƣợc quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định tội danh:
Tại phiên tòa bị cáo Vì Văn B khai nhận ngày 06 tháng 3 năm 2019 đã mua 07 viên ma túy tổng hợp với số tiền 80.000 đồng của một ngƣời dân tộc Mông không quen biết, trên đƣờng về đến bản Nà Khi, xã Mƣờng lạn đã bị Công an huyện Sốp Cộp phát hiện bắt quả tang thu giữ số ma túy trên; Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang hồi 21 giờ 40 phút ngày 06 tháng 3 năm 2019; Biên bản cân tịnh vật chứng ngày, kết luận giám định số 566, ngày 07/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, vật chứng của vụ án là 0,669 gam Methamphetamine.
Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vì Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách độc quyền của nhà nƣớc về quản lý các chất ma túy, ảnh hƣởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn, bị cáo là ngƣời có đủ năng lực pháp luật, nhận thức đƣợc Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo, nhằm răn đe giáo dục và để phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, trƣớc khi phạm tội chƣa có tiền án, tiền sự nên đƣợc hƣởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Với các căn cứ nêu trên. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và đƣa ra mức hình phạt tƣơng xứng với hành vi phạm tội là có căn cứ đúng với quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với tội danh và điều luật áp dụng, xin giảm nhẹ hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra bị cáo phải bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo qui định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự; xét thấy bị cáo không có điều kiện thi hành, nên không áp dụng.
Về vật chứng:
Vật chứng là 0,669 gam ma túy, loại Methamphetamine đã dùng hết để giám định và không hoàn lại mẫu, nên không đề cập để giải quyết tiếp.
Vật chứng còn lại: 01(một) chiếc phong bì màu trắng của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La, đã niêm phong dán kín, mặt trƣớc phong bì ghi : « Vật chứng lƣu kho vụ : Vì Văn B, sinh năm 1981, hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 06/3/2019, bên trong có 01 phong bì thƣ niêm phong ban đầu, cùng 01(một) mảnh gói nilon màu xanh, 01 mảnh ni lon màu hồng » và 01(một) đôi găng tay màu đen nâu không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
- 01(một) chiếc xe máy HONDA hiệu WAVE RSX màu đen trắng, biển kiểm soát 26F 1-093-79, xe đã qua sử dụng xác định là tài sản chung của gia đình bị cáo, cần trả lại cho gia đình bị cáo.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoan 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự ; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tuyên quyền kháng cáo đối với bị cáo, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Vì Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt Vì Văn B 14 (Mƣời bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/3/2019.
Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.
2. Vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu để tiêu hủy 01 (Một) chiếc phong bì màu trắng của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, đã niêm phong dán kín, mặt trƣớc phong bì ghi: « Vật chứng lƣu kho vụ: Vì Văn B, sinh năm 1981, hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 06/3/2019, bên trong có 01 phong bì thƣ niêm phong ban đầu, cùng 01(một) mảnh gói ni lon màu xanh, 01(một) mảnh ni lon màu hồng », và 01(một) đôi găng tay màu đen nâu, đã qua sử dụng.
- Tuyên trả cho bà Lò Thị Ƣ 01(một) chiếc xe máy HONDA hiệu WAVE RSX màu sơn đen, trắng, số máy : JA38E0246740, số khung : 3819GY117877, biển kiểm soát 26F1-093.79, xe đã qua sử dụng. Toàn bộ vật chứng của vụ án theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24 tháng 6 năm 2019, giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện và Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 /UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội ; quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Vì Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/7/2019).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Sốp Cộp; - Công an huyện Sốp Cộp; - Thi hành HS; - Trại giam; - Sở Tƣ pháp tỉnh Sơn La; - Thi HADS huyện Sốp Cộp; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Dƣơng Ngọc Tam |