vanban.org

Bản án 30/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 06/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn H ph m tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử ph t: Bị cáo Võ Văn H 05 (năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 21/3/2019. Về tang vật v án: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hinh sự - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn H ph m tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ N
TỈNH QUẢNG N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2019/HS-ST
Ngày: 06-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ N, TỈNH QUẢNG N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Khôi

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Nguyên

Bà Võ Thị Thu Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú N, tỉnh Quảng N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú N tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Liên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 11 năm 2019, t i tr s T a án nh n d n huyện Phú N, tỉnh Quảng N xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số 27/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 27/2019/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Võ Văn H, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1987 t i Phú N, Quảng N. Nơi ĐKHKTT và chỗ : Thôn Lâm Môn, xã Tam V, huyện Phú N, tỉnh Quảng N. Nghề nghiệp: thợ cơ khí; Trình độ học vấn: 6/12; D n tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn Giáo và bà Nguyễn Thị Hoa; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không;

Bị bắt ph m tội quả tang và t m giữ ngày 21/3/2019, chuyển t m giam từ ngày 27/3/2019, hiện đang bị t m giam t i Tr i t m giam Công an tỉnh Quảng N, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Lê Đình M, sinh năm 1991, trú t i: Thôn 3, xã Tiên Lập, huyện Tiên P, tỉnh Quảng N, vắng mặt.

+ Đoàn Việt T, sinh năm 1989, trú t i: Thôn Vĩnh Quý, xã Tam V, huyện Phú N, tỉnh Quảng N, vắng mặt.

+ Trần Thanh H, sinh năm 1987, trú t i: Thôn Đ i An, xã Tam Đ i, huyện Phú N, tỉnh Quảng N, vắng mặt.

- Người chứng kiến:

+ Ông Nguyễn X, sinh năm 1962, trú t i: Thôn Tú Bình, xã Tam V, huyện Phú N, tỉnh Quảng N, vắng mặt.

+ Anh Võ Văn T, sinh năm 1978, trú t i: Thôn L m Môn, xã Tam V, huyện Phú N, tỉnh Quảng N, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên t a, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Lúc 08 giờ 30 phút ngày 21 tháng 3 năm 2019, t i thôn Tú Bình, xã Tam V, huyện Phú N, Tổ công tác Công an huyện Phú N phát hiện bắt quả tang Võ Văn H đang có hành vi bán trái phép ma túy lo i heroine cho Lê Đình M.

Tang vật thu giữ:

- 01 (một) gói ni lông màu xanh đậm bên trong có chứa c c chất rắn màu trắng.

- Tiền Việt Nam: 130.000 (Một trăm ba mươi nghìn) đồng.

Thu giữ trong người H:

- 03 (ba) gói ni lông màu xanh đậm và xanh lơ bên trong có chứa c c chất rắn màu trắng trong túi quần Short bên trái.

- 04 (bốn) ống kim tiêm.

- 01 (một) điện tho i di động Nokia màu đen, kèm theo thẻ sim số 0334.544.299.

- Tiền Việt Nam: 1.188.000 (Một triệu một trăm tám mươi tám nghìn) đồng.

T m giữ trong người M:

- Tiền Việt Nam: 170.000 (Một trăm bảy mươi nghìn) đồng.

- 01 (một) điện tho i di động hiệu Viettel, màu đen kèm theo thẻ sim số 0372373847.

T i Bản kết luận giám định số: 44/PC09 ngày 26/3/2019 của Ph ng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng N kết luận tang vật thu giữ có tổng trọng lượng 0,261 gam, là ma túy lo i heroine. 0,261 gam heroine đã sử d ng hết trong quá trình giám định.

Heroine là chất ma túy có số thứ tự 20 thuộc danh m c 1 Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định danh m c các chất ma túy và tiền chất.

Lúc 11 giờ 30 phút ngày 21/3/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú N tiến hành khám xét khẩn cấp t i nơi của Võ Văn H, t i thôn L m Môn, xã Tam V, huyện Phú N, tỉnh Quảng N, t m giữ một số đồ vật sau:

- 01 (một) lưỡi dao lam đã qua sử d ng nhãn hiệu “CROMA”;

- 01 (một) mảnh ni-lông, màu xanh lơ, kích thước khoảng (0,4x0,4) cm;

- 15 (mười lăm) mảnh giấy, được cắt ra từ tờ giấy lịch, kích thước mỗi tờ khoảng (0,3x0,3)cm.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng cuối tháng 2, đầu tháng 3/2019, Võ Văn H đã 02 (hai) lần đến ngã ba c Huỳnh Thúc Kháng, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên P gặp một người thanh niên (không rõ lai lịch) nhờ đi mua heroine của một người đàn ông tên Năm Công (không rõ lai lịch) mỗi lần với giá 1.000.000 (một triệu) đồng. Sau mỗi lần mua ma túy đem về nhà, H dùng 01 (một) lưỡi dao lam hiệu Croma chia thành 10 (mười) phần, rồi dùng giấy lịch gói l i, sau đó cho vào bọc bao ni lông màu xanh đậm và xanh lơ. H bán mỗi gói heroine giá 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Đến khoảng 07 giờ 40 phút ngày 21/3/2019, Lê Đình M dùng số điện tho i 0372.373.847 của mình gọi đến số điện tho i 0334.544.299 của H hỏi mua ma túy để sử d ng thì H đồng ý. H hẹn M đến trước quán cà phê ông Tấn thuộc thôn Tú Bình, xã Tam V, huyện Phú N để giao ma túy. Khoảng 10 phút sau, M đi xe máy đến điểm hẹn, t i đ y H bán cho M 01 (một) gói ma túy heroine với giá 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, M mang gói ma túy đến khu vực vắng gần đó để sử d ng hết. Sử d ng ma túy xong, M tiếp t c gọi điện tho i cho H hỏi mua 01 (một) gói ma túy heroine với giá 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, H đồng ý. H hẹn M tới đối diện Ủy ban nh n d n xã Tam V để giao ma túy. Khoảng 15 phút sau, khi H đang ăn t i quán cháo l ng nhà ông Nguyễn X (sinh năm 1962, thuộc thôn Tú Bình, xã Tam V, huyện Phú N) thì M đến trước quán, H đi ra gặp M để đưa ma túy heroine. Khi M đang đếm tiền đưa cho H mới được 130.000 (một trăm ba mươi nghìn) đồng, H chuẩn bị lấy 01 (một) gói ma túy từ trong túi quần để giao cho M nhưng chưa kịp giao ma túy và nhận tiền của M thì bị Tổ công tác Công an huyện Phú N phát hiện nên H bỏ ch y và vứt l i 01 (một) gói ma túy cách vị trí H bị bắt khoảng 1 mét. Ngay sau đó H bị bắt và thu giữ 03 (ba) gói ma túy trong túi quần bên trái như đã nêu. T i Cơ quan điều tra, Võ Văn H khai 04 (bốn) gói ni lông màu xanh đậm và xanh lơ bên trong có chứa c c chất rắn màu trắng mà Công an t m giữ là ma túy lo i Heroine. H khai nhận 04 (bốn) gói ma túy này đang cất giữ nhằm m c đích bán l i kiếm lời.

Ngoài 02 (hai) lần bán ma túy cho Lê Đình M vào sáng ngày 21/3/2019 thì từ cuối tháng 02/2019 đến tháng 3/2019, Võ Văn H còn bán ma túy lo i heroine cho nhiều đối tượng nghiện ma túy trên địa bàn huyện Phú N, tỉnh Quảng N, c thể như sau:

- Bán cho Lê Đình M 06 (sáu) lần, mỗi lần 01 (một) gói heroine với giá 300.000 (ba trăm nghìn) đồng t i khu vực trước quán cà phê của ông Tấn thuộc thôn Tú Bình, xã Tam V, huyện Phú N nhưng không nhớ rõ thời gian c thể.

- Bán cho Đoàn Việt T (sinh năm 1989, trú t i thôn Vĩnh Quý, xã Tam V, huyện Phú N, tỉnh Quảng N) 02 (hai) lần, c thể:

+ Lần thứ nhất: Khoảng cuối tháng 2/2019, T gặp H t i đường ĐH9 (gần nghĩa địa) thuộc thôn L m Môn, xã Tam V, huyện Phú N, t i đ y T hỏi mua ma túy để sử d ng và H đồng ý bán cho T 01 (một) gói ma túy heroine với giá 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

+ Lần thứ hai: Vào giữa tháng 3/2019, T dùng số điện tho i của mình 0375.449.504 gọi điện tho i cho H hỏi mua ma túy để sử d ng, H đồng ý và hẹn T đến đường bê tông gần nhà H để giao ma túy, t i đ y H bán cho T 01 (một) gói ma túy heroine với giá 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

- Bán cho Trần Thanh H, sinh năm 1987, trú thôn Đ i An, xã Tam Đ i, huyện Phú N 01 (một) gói ma túy lo i heroine với giá 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng t i đường ĐH9 thuộc thôn L m Môn, xã Tam V, huyện Phú N. Tuy nhiên, hiện nay đối tượng Trần Thanh H không có mặt t i địa phương nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được.

- Bán cho một người thanh niên (không rõ lai lịch) đi xe SH 01 (một) gói ma túy lo i heroine với giá 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng t i đường ĐH9 thuộc thôn L m Môn, xã Tam V, huyện Phú N.

T i cơ quan điều tra, Võ Văn H đã khai nhận T bộ hành vi ph m tội của mình, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được.

T i bản cáo tr ng số 24/CT-VKSPN ngày 27-8-2019 Viện kiểm sát nh n d n huyện Phú N đã truy tố Võ Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015.

T i phiên t a, đ i diện Viện kiểm sát nh n d n huyện Phú N đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Văn H ph m tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề xuất áp d ng: điểm b khoản 2 điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đề xuất mức hình ph t: xử ph t bị cáo H từ 05 (năm) đến 06 (sáu) năm tù.

Và đề nghị xử lý vật chứng như sau:

* Đề nghị tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì niêm phong số 44/PC09, bên trong chứa các bao gói ma túy gửi đến giám định;

- 01 (một) lưỡi dao lam đã qua sử d ng nhãn hiệu “CROMA”;

- 04 (bốn) ống kim tiêm;

- 01(một) mảnh ni-lông, màu xanh lơ, kích thước khoảng (0,4x0,4)cm; 15 (mười lăm) mảnh giấy, được cắt ra từ tờ giấy lịch, kích thước mỗi tờ khoảng (0,3x0,3) cm.

* Đề nghị tịch thu sung công quỹ:

- 01(một) điện tho i di động Nokia màu đen, kèm theo thẻ sim số 0334.544.299 H sử d ng làm phương tiện ph m tội nên cần tịch thu sung công quỹ.

- Số tiền 1.188.000 (Một triệu một trăm tám mươi tám nghìn) đồng (hiện đang t m giữ trong tài khoản t m gửi của Công an huyện Phú N t i Kho b c Nhà nước huyện Phú N) thu giữ của Võ Văn H cần tiếp t c quy trữ để đảm bảo thi hành án.

- Số tiền 130.000 (Một trăm ba mươi nghìn) đồng và 170.000 (Một trăm bảy mươi nghìn) đồng (hiện đang t m giữ trong tài khoản t m gửi của Công an huyện Phú N t i Kho b c Nhà nước huyện Phú N) là tiền M sử d ng để mua ma túy của H nên cần tịch thu sung công quỹ.

* Truy thu sung công quỹ số tiền 3.600.000 (Ba triệu sáu trăm nghìn) đồng của H do ph m tội mà có.

- Trả l i các tài sản sau:

- 01 (một) điện tho i di động hiệu Viettel, màu đen kèm theo thẻ sim số 0372.373.847 của Lê Đình M không liên quan đến v án nên trả l i cho M.

T i phiên t a, bị cáo Võ Văn H nói lời sau cùng: Bị cáo đã thấy hành vi của mình là sai, vi ph m pháp luật. Bị cáo nhận lỗi và xin giảm nhẹ hình ph t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ t c tố t ng: Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nh n d n huyện Phú N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên t a, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Xét thấy các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

T i phiên t a bị cáo Võ Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội của mình như bản cáo tr ng của Viện kiểm sát đã truy tố và nhận thấy tội lỗi của mình. Đối chiếu lời khai của bị h i, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan, người chứng kiến, với những tài liệu, chứng cứ khách quan khác đã được thẩm tra t i phiên tòa là phù hợp, Hội đồng xét xử sơ thẩm xét thấy có đủ cơ s để kết luận: Lúc 08 giờ 30 phút ngày 21/3/2019, t i thôn Tú Bình, xã Tam V, huyện Phú N, Tổ công tác Công an huyện Phú N bắt quả tang Võ Văn H đang có hành vi mua bán trái phép 01 (một) gói ma túy lo i heroine cho Lê Đình M với giá 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Kiểm tra và thu giữ 03 (ba) gói ma túy trong người H. H khai nhận 04 (bốn) gói ma túy lo i heroine, tổng trọng lượng 0,261g H cất giữ trong người nhằm m c đích mua bán. Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ cuối tháng 2 và tháng 3 năm 2019, Võ Văn H đã bán ma túy lo i heroine cho Lê Đình M 07 (bảy) lần, mỗi lần 01 (một) gói 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; bán ma túy lo i heroine cho Đoàn Việt T 02 (hai) lần, mỗi lần 01 (một) gói 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; bán ma túy lo i heroine cho Trần Thanh H 01 (một) lần với giá 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; bán ma túy lo i heroine cho một người thanh niên (không rõ lai lịch) đi xe SH 01 (một) lần với giá 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

T i Bản kết luận giám định số: 44/PC09 ngày 26/3/2019 của Ph ng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng N kết luận tang vật thu giữ có tổng trọng lượng 0,261 gam, là ma túy lo i heroine. 0,261 gam heroine đã sử d ng hết trong quá trình giám định.

Heroine là chất ma túy có số thứ tự 20 thuộc danh m c 1 Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định danh m c các chất ma túy và tiền chất.

Hành vi ph m tội của bị cáo Võ Văn H g y ra đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như bản cáo tr ng và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nh n d n huyện Phú N đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất v án, mức độ hành vi ph m tội của bị cáo thì thấy:

Chất ma tuý nói chung và heroine nói riêng là lo i chất kích thích g y nghiện. Những ai mua bán, tàng trữ, vận chuyển... trái phép chất ma túy đều bị pháp luật trừng trị thích đáng. Chính vì sử d ng chất ma túy sẽ làm cho người nghiện có cảm giác thèm muốn, không làm chủ được bản th n, không từ bỏ được ma túy, ảnh hư ng đến thể chất và tinh thần, t m sinh lý của người nghiện, là tác nh n g y ra các lo i tội ph m và tệ n n xã hội khác.

Bị cáo Võ Văn H là người đã trư ng thành và có đầy đủ điều kiện để nhận thức rõ được hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình là vi ph m pháp luật, nguy hiểm cho xã hội. Thế nhưng do nghiện ma túy, xem thường pháp luật, bị cáo bất chấp tính nguy hiểm của chất ma túy đối với sức khỏe của con người nên bị cáo đã mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần (ph m tội 02 lần tr lên). Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Lỗi này hoàn T thuộc về bị cáo. Vì vậy, cần áp d ng đối với bị cáo một mức án thật nghiêm, tương xứng với hành vi ph m tội của bị cáo, xét thấy cần xử ph t tù có thời h n một thời gian nhằm cải t o giáo d c bị cáo tr thành người công d n có ích cho xã hội cũng như để đấu tranh, ph ng ngừa chung là cần thiết.

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Trong quá trình điều tra và t i phiên t a, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi ph m tội của mình. Bị cáo đã tự thú về những lần mua bán trái phép chất ma túy trước đ y. Đ y là những tình tiết giảm nhẹ được xem xét khi lượng hình được quy định t i điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xét thấy bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ được quy định t i điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS nên cần áp d ng Điều 54 BLHS xử ph t bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình ph t được áp d ng nhằm thể hiện sự khoan hồng trong nguyên tắc xử lý đối với người ph m tội.

Những vấn đề liên quan khác:

Đối với việc Võ Văn H khai nhờ 01 thanh niên không rõ lai lịch mua ma túy heroine của đối tượng tên Năm Công t i xã Tiên Cảnh, Tiên P, Quảng N để bán l i kiếm lời. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch hai người này nên không đề cập xử lý.

Đối với hành vi “Sử d ng trái phép chất ma túy” của Lê Đình M, Đoàn Việt T đã bị Công an huyện Phú N ra quyết định xử ph t vi ph m hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp quy định pháp luật nên không đề cập xử lý.

Đối với đối tượng Trần Thanh H, bị cáo H khai nhận bán 01 (một) gói ma túy lo i heroine với giá 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng cho H. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra chưa làm việc được với H nên tách ra để tiếp t c xác M xử lý sau là phù hợp.

Đối với một người thanh niên (không rõ lai lịch) đi xe SH, bị cáo H khai nhận bán 01 (một) gói ma túy lo i heroine với giá 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra chưa xác định được lai lịch của thanh niên này nên không đề cập xử lý.

Về vật chứng trong v án:

Đối với 01 (một) phong bì niêm phong số 44/PC09, bên trong chứa các bao gói ma túy gửi đến giám định; 01 (một) lưỡi dao lam đã qua sử d ng nhãn hiệu “CROMA”; 04 (bốn) ống kim tiêm; 01(một) mảnh ni-lông, màu xanh lơ, kích thước khoảng (0,4x0,4)cm; 15 (mười lăm) mảnh giấy, được cắt ra từ tờ giấy lịch, kích thước mỗi tờ khoảng (0,3x0,3) cm. Xét thấy đ y là những vật liên quan đến việc ph m tội và sử d ng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01(một) điện tho i di động Nokia màu đen, kèm theo thẻ sim số 0334.544.299, xét thấy đ y là phương tiện bị cáo H sử d ng vào việc ph m tội nên cần tịch thu sung vào ng n sách nhà nước.

Đối với số tiền 130.000 (Một trăm ba mươi nghìn) đồng và 170.000 (Một trăm bảy mươi nghìn) đồng (hiện đang t m giữ trong tài khoản t m gửi của Công an huyện Phú N t i Kho b c Nhà nước huyện Phú N) là tiền M sử d ng để mua ma túy của H được thu giữ trong quá trình bắt ph m tội quả tang nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền bán ma túy, thu lợi bất chính 11 lần (không tính lần ph m tội bị bắt quả tang vì bị cáo chưa lấy được tiền mà tiền mua bán lần này 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã bị Công an thu giữ), gồm: bán cho Lê Đình M 07 (bảy) lần, mỗi lần 01 (một) gói 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; bán cho Đoàn Việt T 02 (hai) lần, mỗi lần 01 (một) gói 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; bán cho Trần Thanh H 01 (một) lần với giá 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; bán cho một người thanh niên (không rõ lai lịch) đi xe SH 01 (một) lần với giá 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.Tổng cộng số tiền bán ma túy 11 lần là 3.300.000 (ba triệu, ba trăm nghìn) đồng. Xét thấy đ y là số tiền thu được từ việc ph m tội mà có nên cần truy thu nộp ng n sách nhà nước.

Số tiền 1.188.000 (Một triệu một trăm tám mươi tám nghìn) đồng (hiện đang t m giữ trong tài khoản t m gửi của Công an huyện Phú N t i Kho b c Nhà nước huyện Phú N) thu giữ của Võ Văn H, xét thấy không liên quan đến v án nên cần trả l i cho bị cáo nhưng tiếp t c quy trữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 (một) điện tho i di động hiệu Viettel, màu đen kèm theo thẻ sim số 0372.373.847 của Lê Đình M không liên quan đến v án nên đã trả l i cho M là phù hợp nên không đề cập xử lý.

Án phí sơ thẩm bị cáo Võ Văn H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí.

1. Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn H ph m tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Xử ph t: Bị cáo Võ Văn H 05 (năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 21/3/2019.

3. Về tang vật v án: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 44/PC09, bên trong chứa các bao gói ma túy gửi đến giám định; 01 (một) lưỡi dao lam đã qua sử d ng nhãn hiệu “CROMA”; 04 (bốn) ống kim tiêm; 01(một) mảnh ni-lông, màu xanh lơ, kích thước khoảng (0,4x0,4)cm; 15 (mười lăm) mảnh giấy, được cắt ra từ tờ giấy lịch, kích thước mỗi tờ khoảng (0,3x0,3) cm.

- Tịch thu sung vào ng n sách nhà nước: 01(một) điện tho i di động Nokia màu đen, kèm theo thẻ sim số 0334.544.299 và số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng là tiền M sử d ng để mua ma túy của H.

- Truy thu của bị cáo Võ Văn H số tiền 3.300.000 (ba triệu, ba trăm nghìn) đồng để nộp vào ng n sách nhà nước.

- Trả l i cho Võ Văn H số tiền 1.188.000 (Một triệu, một trăm tám mươi tám nghìn) đồng thu giữ của Võ Văn H nhưng tiếp t c quy trữ để đảm bảo thi hành án.

(Số vật chứng tịch thu tiêu hủy và 01(một) điện tho i di động Nokia màu đen, kèm theo thẻ sim số 0334.544.299 hiện đang t m giữ t i Chi c c thi hành án d n sự huyện Phú N, tỉnh Quảng N theo biên bản giao nhận ngày 12/9/2019)

(Số tiền 300.000 đồng tịch thu sung vào ng n sách nhà nước và số tiền tiếp t c quy trữ 1.188.000 đồng, tổng cộng 1.488.000 đồng hiện đang t m giữ t i tài khoản t m gửi của Công an huyện Phú N m t i Kho b c nhà nước huyện Phú N theo số tài khoản 3949.0.9043948.00000 theo giấy nộp tiền vào ng n sách nhà nước ngày 09/4/2019).

4. Về án phí: Bị cáo Võ Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án d n sự thì người được thi hành án d n sự, người pH thi hành án d n sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i điều 30 Luật Thi hành án d n sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ