- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2019/HS-ST Ngày: 12/6/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Trâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lý Văn Tòng
2. Ông Quốc Văn Tài
- Thư ký phiên tòa: Bà Bàn Thị Bích Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đàm Như Hiển - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2019/TLST-HS ngày 17/5/2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2019/QĐXXST-HS ngày 29/5/2019 đối với bị cáo:
Hoàng Văn N, sinh ngày 05/4/1962 tại huyện XT, tỉnh NĐ; Nơi cư trú: Tổ dân phố VT (nguyên là tổ VL), thị trấn VL, huyện CH, tỉnh TQ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn T (đã chết) và bà Phạm Thị T, sinh năm 1929; Anh, chị, em ruột: Có 07 anh chị em, bị cáo là thứ năm; Có vợ Nguyễn Thị H, sinh năm 1963 và có 01 con, sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 03/4/2019, Hoàng Văn N một mình đi bộ từ nhà đến khu vực đền BT thuộc tổ 11/9, thị trấn VL, huyện CH, tỉnh TQ mục đích tìm mua Heroine về sử dụng cho bản thân. Đến nơi, N gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi và địa chỉ đang đứng một mình ở cạnh đường, N đến gần hỏi mua được 02 gói nhỏ Heroine với giá 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng). Sau khi mua được Heroine, N đi bộ xuống khu vực bờ sông Gâm gần đó, tìm chỗ vắng người và lấy 01 gói Heroine mua được san ra một ít để sử dụng bằng cách đốt hít vào cơ thể, số còn lại N gói lại như cũ và cất giấu cả 02 gói vào túi quần bên trái đang mặc và đi bộ về nhà. Vào hồi 09 giờ 30 phút cùng ngày 03/4/2019, khi N đi đến tổ dân phố VG (nguyên là tổ PM), thị trấn VL, huyện CH, thì bị tổ công tác Công an huyện CH phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 02 gói nhỏ có đặc điểm bên ngoài gói bằng giấy nhiều màu, bên trong có chứa chất bột vón cục màu trắng, N khai là Heroine, mục đích để sử dụng.
Biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy hồi: 10 giờ 45 phút ngày 03/4/2019 tại Công an huyện CH đối với Hoàng Văn N, kết quả: (+) Dương tính.
Tại kết luận giám định số: 284/GĐKTHS ngày 05/4/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng trong 02 gói nhỏ thu giữ của Hoàng Văn N gửi giám định là chất ma túy (loại Heroine), tổng khối lượng 0,203g (Không phẩy hai trăm linh ba gam).
Cáo trạng số: 33/CT-VKSCH ngày 16/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố bị cáo Hoàng Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt chính: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy (Heroine) thu giữ của bị cáo Hoàng Văn N, hiện được niêm phong trong một phong bì còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Hoàng Văn N, thành phần tham gia niêm phong và 05 (năm) hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, mặt trước ghi tang vật vụ Hoàng Văn N giám định ngày 03/4/2019.
Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn N thừa nhận bản thân bị cáo là người nghiện ma túy từ năm 2018, ngày 03/4/2019 bị cáo có hành vi tàng trữ 0,203g (Không phẩy hai trăm linh ba gam) gam Heroine mục đích để sử dụng. Lời khai của bị cáo là phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về việc xem xét hành vi của Hoàng Văn N.
Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Hoàng Văn N được chứng minh bằng lời khai nhận tội của chính bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 09 giờ 30 phút ngày 03/4/2019, tại tổ dân phố VG (nguyên là tổ PM2), thị trấn VL, huyện CH, tỉnh TQ, Hoàng Văn N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,203g (Không phẩy hai trăm linh ba gam) Heroine mục đích để sử dụng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bản thân Hoàng Văn N có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã có hành vi tàng trữ 0,203g (Không phẩy hai trăm linh ba) gam Heroine mục đích để sử dụng với lỗi cố ý. Khối lượng ma túy mà Nam tàng trữ trong phạm vi khối lượng ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự (từ 0,1 gam đến 05 gam). Do đó, hành vi của Hoàng Văn N đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện CH truy tố đối với bị cáo N là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
. Về việc quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- Hình phạt chính: Bị cáo Hoàng Văn N có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Xét nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định (tù có thời hạn) trong phạm vi đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đảm bảo giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới, đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm chung.
- Hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác định Hoàng Văn N là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản gì có giá trị nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
. Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
Quá trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do Luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án và các vấn đề khác.
Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 02 gói Heroine có tổng khối lượng 0,203g (Không phẩy hai trăm linh ba) gam, sau khi đã lấy đi giám định số còn lại được niêm phong trong phong bì cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Hoàng Văn N, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ, cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý; Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hoàng Văn N, Công an huyện Chiêm Hóa đã ra Quyết định xử phạt hành chính. Do vậy, HĐXX không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 106, 135, 136, 331 và 333 của Bộ Luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
1. Về hình phạt: Xử phạt Hoàng Văn N 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 03/4/2019).
2. Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Hoàng Văn N, thành phần tham gia niêm phong và 05 (năm) hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, mặt trước ghi tang vật vụ Hoàng Văn N giám định ngày 03/4/2019.
(Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện Chiêm Hóa và Chi cục thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa lập ngày 17/5/2019).
3. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Hoàng Văn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Quốc Văn Tài - Lý Văn Tòng
Phạm Thị Thùy Trâm
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Chiêm Hóa; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - TAND tỉnh Tuyên Quang; - CQCSĐT CA huyện Chiêm Hóa; - CQTHAHS CA huyện Chiêm Hóa; - Trại trạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang; - Chi cục THADS huyện CH; - Bộ phận HSNV CA huyện Chiêm Hóa; - Sở tư pháp; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thùy Trâm |