vanban.org

Bản án 30/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh C. T.TH được ly hôn với chị D. TH. Đ.

Về con chung: Xác định cháu C. TH.T.P. (nữ) sinh ngày 21/3/2014 không phải là con của anh C. T.TH . Giao cho chị D. TH. Đ. R được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Cao Thị Thảo Phương, anh C. T.TH không phải cấp dưỡng nuôi con. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Không chấp nhận yêu cầu anh C. T.TH cấp dưỡng giữa vợ chồn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh C. T.TH được ly hôn với chị D. TH. Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG
Bản án số: 30/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 20/6/2019
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, yêu cầu cấp
dưỡng giữa vợ, chồng khi ly hôn và yêu cầu xác định
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Hương

2. Ông Triệu Khánh Long.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm, Thư ký T a án nhân dân thị x Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mỹ Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở T a án nhân dân thị x Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng mở phiên t a xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 306/2018/TLST–HNGĐ, ngày 03/12/2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ, chồng khi ly hôn và yêu cầu xác định con ”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh C. T.TH , sinh năm 1983;

Địa chỉ: Số 253 đường Nguyễn Trung Trực, Phường 2, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

2. Bị đơn: Chị D. TH. Đ. R, sinh năm 1993;

Địa chỉ: Nhà không số, ấp Trà Sết, x Vĩnh Hải, thị x Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

(Nguyên đơn, bị đơn có mặt)

Người phiên dịch tiếng Khmer: ông Lâm Diệp Panh, Cán bộ Hội nông dân phường 1, thị x Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 02/12/2018, nguyên đơn Cao Tro(ng Thương trình bày: Vào năm 2014, anh C. T.TH kết hôn với chị D. TH. Đ. R có đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân x Vĩnh Hải, thị x Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 10/01/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung tại ấp Trà Sết, x Vĩnh Hải, thị x Vĩnh Châu đến cuối năm 2014 thì anh TH.về sinh sống tại số 253 đường Nguyễn Trung Trực, Phường 2, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng cho đến nay không c n liên lạc với nhau.

Từ khi cưới nhau vợ chồng sống chung không hạnh phúc, anh TH.nghi ngờ chị Đ. R. không chung thủy nên tình cảm vợ chồng không c n hạnh phúc, bất đồng quan điểm, thường xuyên mâu thuẫn không thể khắc phục được nên đ sống ly thân từ cuối năm 2014. Nhận thấy, cuộc sống vợ chồng với chị D. TH. Đ. R không hạnh phúc, không có tình cảm vợ chồng nay anh C. T.TH yêu cầu T a án giải quyết được ly hôn với chị D. TH. Đ. R.

-Về con chung: Có một con chung C. TH.T.P. (nữ) sinh ngày 21/3/2014 hiện tại đang sống chung với chị D. TH. Đ. R tại ấp Trà Sết, x Vĩnh Hải, thị x Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Tuy nhiên, càng lớn lên cháu C. TH.T.P. không có nét giống anh C. T.TH nên anh TH.đ quyết định đưa cháu Thảo Phương đi xét nghiệm ADN. Hội đồng xét nghiệm ADN của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận con chung (Cao Thị Thảo Phương) của anh C. T.TH với chị D. TH. Đ. R không có quan hệ huyết thống cha - con với anh C. T.TH . Vì vậy, ngày 10/01/2019 anh C. T.TH có đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung yêu cầu T a án căn cứ vào kết quả xét nghiệm ADN của Hội đồng xét nghiệm ADN Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh để xác định cháu C. TH.T.P. không phải là con của anh C. T.TH .

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu T a án giải quyết.

- Về việc cấp dưỡng sau khi ly hôn anh C. T.TH không đồng ý cấp dưỡng theo yêu cầu của chị D. TH. Đ. R mà chỉ hỗ trợ khi ly hôn cho chị D. TH. Đ. R số tiền là 20.000.0000 đồng.

* Trong quá trình giải quyết vụ án chị D. TH. Đ. R trình bày: Vào năm 2014, chị D. TH. Đ. R có kết hôn với anh C. T.TH và được Ủy ban nhân dân x Vĩnh Hải cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 10/01/2014. Từ khi kết hôn đến nay chị Đ. R. và anh C. T.TH không sống chung với nhau nhưng trước đó có quan hệ tình cảm với nhau nên đ có con chung với nhau tên C. TH.T.P. (nữ) sinh ngày 21/3/2014. Từ khi kết hôn đến nay chị Đ. R. và anh TH.không sống chung, thi thoảng anh TH.có về thăm con nhưng không quan tâm chăm sóc, chu cấp tiền để cho chị Đ. R. nuôi dạy con. Từ năm 2017, anh TH.không về nhà thăm con và cũng không liên lạc với chị Đ. R. . Nhận thấy, cuộc sống vợ chồng với anh C. T.TH không c n hạnh phúc, nay anh TH.yêu cầu được ly hôn chị D. TH. Đ. R cũng đồng ý.

- Về con chung: Chị Đ. R. và anh C. T.TH có với nhau một đứa con chung tên C. TH.T.P. sinh ngày 21/3/2014, từ khi sinh ra cho đến nay đều ở chung với chị Đ. R. , anh C. T.TH không thường xuyên quan tâm, chăm sóc nuôi dạy cháu Phương. Hiện tại anh TH.c n yêu cầu T a án xác định cháu C. TH.T.P. không phải là con ruột của anh C. T.TH chị Đ. R. không đồng ý. Chị Đ. R. khẳng định, cháu C. TH.T.P. là con ruột của chị D. TH. Đ. R với anh C. T.TH , cháu C. TH.T.P. được chị Đ. R. sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp giữa chị D. TH. Đ. R với anh C. T.TH nên cháu C. TH.T.P. phải là con ruột của anh C. T.TH .

Đối với kết quả xét nghiệm ADN mà anh C. T.TH đ cung cấp cho T a án để chứng minh C. TH.T.P. không phải là con ruột của anh Thương, chị Ri không công nhận vì chứng cứ đó là không đúng với sự thật. Chị D. TH. Đ. R, không cung cấp được các chứng cứ để chứng minh kết luật xét nghiệm ADN mà anh C. T.TH cung cấp là không khách quan và không đồng ý đưa cháu C. TH.T.P. đi giám định ADN nếu T a án có yêu cầu ngoài lời trình bày khi lấy mẫu xét nghiệm ADN của cháu Thảo Phương chị Đ. R. không biết, không có mặt của chị Đ. R. chứng kiến nên kết quả xét nghiệm ADN mà anh C. T.TH cung cấp là không khách quan.

- Về cấp dưỡng: Trường hợp T a án giải quyết cho chị Đ. R. ly hôn với anh C. T.TH thì chị Đ. R. không yêu cầu anh C. T.TH phải cấp dưỡng nuôi con nhưng yêu cầu anh TH.phải cấp dưỡng cho chị Ri khi ly hôn với số tiền cấp dưỡng là 150.000.000 đồng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị D. TH. Đ. R khẳng định không có, không yêu cầu xem xét giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị x Vĩnh Châu tham gia phiên t a nêu quan điểm: Kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà và đương sự đ thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự khi tham gia tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử cho anh C. T.TH được ly hôn với chị D. TH. Đ. R; về con chung đề nghị Hội đồng xét xử xác định cháu C. TH.T.P. không phải là con của anh C. T.TH ; Về nghĩa vụ cấp dưỡng: không chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng khi ly hôn của chị D. TH. Đ. R. Ghi nhận ý chí tự nguyện của anh C. T.TH về việc hỗ trợ khi ly hôn cho chị D. TH. Đ. R với số tiền là 20.000.000 đồng. Về tài sản chung, nợ chung nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đ được thẩm tra tại phiên t a và lời trình bày của các đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong vụ án này, anh C. T.TH yêu cầu ly hôn với chị D. TH. Đ. R, tranh chấp về xác định con và cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn, quan hệ pháp luật nêu trên được điều chỉnh tại các Điều 51, Điều 56, Điều 89 và Điều 115 Luật hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của T a án được quy định tại khoản 1, khoản 4 và khoản 5 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, được Ủy ban nhân dân x Vĩnh Hải, thị x Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 10/01/2014 theo đúng quy định. Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số: 14 ngày 10/01/2014 của Ủy ban nhân dân x Vĩnh Hải, thị x Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, Hội đồng xét xử khẳng định lời trình bày của nguyên đơn C. T.TH có kết hôn với bị đơn D. TH. Đ. R là sự thật, được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, giữa anh C. T.TH và chị D. TH. Đ. R đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, anh C. T.TH sống tại số 253 đường Nguyễn Trung Trực, Phường 2, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng c n chị Đ. R. sống tại ấp Trà Sết, x Vĩnh Hải, thị x Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, hai bên không sống chung với nhau từ khi kết hôn nên tình cảm ngày càng phai nhạt, thường xuyên xảy ra c i v dẫn đến mâu thuẫn kéo dài không c n hạnh phúc.

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn kiên quyết xin ly hôn vì cho rằng vợ chồng không c n tình cảm thương yêu nhau vì chị sống không chung thủy nên cuộc sống chung không c n hạnh phúc. Xét thấy, trong quá trình chung sống nguyên đơn và bị đơn đ xảy ra nhiều mâu thuẫn, không c n sống chung với nhau, cuộc sống vợ chồng mạnh ai nấy sống, người nào chỉ biết bổn phận của người đó, không tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình là đ vi phạm nghiêm trọng về nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình. Từ đó chứng tỏ rằng tình yêu giữa vợ chồng không c n nữa, mặc dù đang tồn tại quan hệ hôn nhân nhưng giữa anh C. T.TH và chị D. TH. Đ. R không có tình nghĩa vợ chồng. Những biểu hiện trên cho thấy, nguyên đơn và bị đơn không thể sống chung để cùng nhau xây dựng được gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định: Quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn C. T.TH và bị đơn D. TH. Đ. R thật sự trong tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Từ những phân tích nhận định như trên, xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn C. T.TH với bị đơn D. TH. Đ. R là có cơ sở chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết cho anh C. T.TH được ly hôn với chị D. TH. Đ. R.

Về con chung: Bị đơn D. TH. Đ. R khẳng định cháu C. TH.T.P. được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp giữa chị Đ. R. với anh C. T.TH , do đó cháu C. TH.T.P. chính là con ruột của anh C. T.TH với chị D. TH. Đ. R. Trong khi đó, anh C. T.TH cho rằng tuy có kết hôn và chung sống với chị D. TH. Đ. R nhưng cháu C. TH.T.P. không phải là con ruột của anh C. T.TH với chị D. TH. Đ. R nên đ tiến hành xét nghiệm ADN xác định quan hệ cha con với cháu Thảo Phương và yêu cầu T a án xác định cháu C. TH.T.P. không phải con của nguyên đơn C. T.TH .

Xét ý kiến trình bày và yêu cầu về con chung của các đương sự thấy rằng: Mặc dù cháu C. TH.T.P. sinh ngày 21/3/2014 được chị Đ. R. sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp, theo giấy chứng nhận kết hôn 14 ngày 10/01/2014 của Ủy ban nhân dân x Vĩnh Hải, thị x Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng nên tại giấy khai sinh số: 135 ngày 24/4/2014 của cháu C. TH.T.P. do Ủy ban nhân dân x Vĩnh Hải, thị x Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng cấp thể hiện tên cha là C. T.TH và tên mẹ là D. TH. Đ. R. Tuy nhiên, tại Công văn ngày 10/5/2019 của Công ty cổ phân dịch vụ phân tích di truyền tại thành phố Hồ Chí Minh xác nhận quy trình thu mẫu huyết thống ADN; Hồ sơ tiến hành lấy mẫu xét nghiệm ADN và phiếu kết quả phân tích ADN số: KQ 1804673 ngày 09/10/2018 của Công ty cổ phân dịch vụ phân tích di truyền Thành phố Hồ Chí Minh kết luận anh C. T.TH và cháu C. TH.T.P. không có quan hệ huyết thống Cha – Con. Xét thấy: Quy trình, trình tự lấy mẫu ADN xét nghiệm của Công ty cổ phân dịch vụ phân tích di truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với anh C. T.TH và Cháu C. TH.T.P. đều được tuân thủ theo quy định của pháp luật và kết quả này được sử dụng trong tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 88, khoản 2 Điều 89, khoản 2 Điều 101 Luật hôn nhân và gia đình xác định cháu C. TH.T.P. không phải là con của Anh C. T.TH .

Đối với ý kiến trình bày của bị đơn D. TH. Đ. R về việc khẳng định cháu C. TH.T.P. là con ruột của nguyên đơn C. T.TH , không công nhận kết quả xét nghiệm số: KQ 1804673 ngày 09/10/2018 của Công ty cổ phân dịch vụ phân tích di truyền Thành phố Hồ Chí Minh vì kết quả xét nghiệm gen không khánh quan và không đúng sự thật nhưng bị đơn không có chứng cứ gì chứng minh được việc lấy mẫu xét nghiệm của cháu C. TH.T.P. và anh C. T.TH là không đúng quy trình, không khách quan, không đúng trình tự theo quy định của pháp luật. Đồng thời, bị đơn D. TH. Đ. R không yêu cầu và không đồng ý tiến hành lấy mẫu giám định để chứng minh quan hệ cha – con giữa anh C. T.TH và cháu Cao Thị Thảo Phương. Do đó, ý kiến khẳng định cháu C. TH.T.P. là con ruột của nguyên đơn C. T.TH là không có cơ sở để chấp nhận.

Về cấp dưỡng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên t a, chị D. TH. Đ. R trình bày: Trường hợp T a án giải quyết cho chị Đ. R. ly hôn với anh C. T.TH thì chị Đ. R. không yêu cầu anh C. T.TH phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặc ra xem xét.

- Đối với yêu cầu của bị đơn D. TH. Đ. R yêu cầu anh C. T.TH phải cấp dưỡng khi ly hôn một lần với số tiền 150.000.000 đồng thấy rằng: Xét hoàn cảnh gia đình của bị đơn D. TH. Đ. R được ông Lý Văn Suôl là Phó ban nhân dân ấp Trà Sết, x Vĩnh Hải xác nhận tại biên bản xác minh ngày 22/5/2019 của T a án là không thuộc trường hợp khó khăn, túng thiếu, thu nhập đảm bảo được cuộc sống hằng ngày, gia đình không thuộc diện hộ nghèo ở địa phương. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn D. TH. Đ. R không đưa ra được các lý do nào chính đáng để buộc nguyên đơn C. T.TH phải có nghĩa vụ cấp dưỡng khi ly hôn nên yêu cầu của bị đơn về việc cấp dưỡng khi ly hôn là chưa phù hợp với quy định tại Điều 115 của luật hôn nhân và gia đình quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ chồng khi ly hôn. Trong khi đó, phía bị đơn C. T.TH không đồng ý theo yêu cầu cấp dưỡng khi ly hôn một lần cho bị đơn D. TH. Đ. R với số tiền 150.000.000 đồng nên yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn của bị đơn là không có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên t a sơ thẩm, bị đơn C. T.TH đồng ý hỗ trợ khi ly hôn cho D. TH. Đ. R 20.000.000 đồng. Do đó Hội đồng xét xử ghi nhận ý chí tự nguyện của anh C. T.TH về việc hỗ trợ khi ly hôn cho chị D. TH. Đ. R số tiền là 20.000.000 đồng.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh C. T.TH và Chị D. TH. Đ. R, khẳng định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là: 300.000 đồng nguyên đơn C. T.TH phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị x Vĩnh Châu đ nêu là có căn cứ phù hợp với những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đ được xem xét, đánh giá tại phiên t a nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1, khoản 4 và khoản 5 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điểm c Khoản 1 Điều 92, Khoản 1 và Khoản 2 Điều 143, Khoản 3 Điều 144, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227 và Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật dân sự;

Căn cứ: Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 88, Điều 89, Điều 101 và Điều 115 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ: Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh C. T.TH được ly hôn với chị D. TH. Đ. R.

2. Về con chung: Xác định cháu C. TH.T.P. (nữ) sinh ngày 21/3/2014 không phải là con của anh C. T.TH . Giao cho chị D. TH. Đ. R được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Cao Thị Thảo Phương, anh C. T.TH không phải cấp dưỡng nuôi con.

3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Không chấp nhận yêu cầu anh C. T.TH cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn của Chị D. TH. Đ. R. Ghi nhận ý chí tự nguyện của anh C. T.TH hỗ trợ khi ly hôn cho chị D. TH. Đ. R số tiền 20.000.000 đồng.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Anh C. T.TH và chị D. TH. Đ. R không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

5. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nguyên đơn C. T.TH phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đ nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004018, ngày 03/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị x Vĩnh Châu, anh C. T.TH đ nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày T a tuyên án, để yêu cầu T a án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Cỡ chữ