vanban.org

Bản án 30/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị cẩm Tú và Nguyễn Ngọc Tân tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TH XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 30/2019/HNGĐ-ST
Ngày 25-4-2019
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NH N D N TH XÃ DĨ AN, T NH B NH DƯ NG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Nông.

2. Bà Châu Hồng Nga.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 34/2019/TLST-HNGĐ ngày 10-01-2019 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 32/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2019, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Cẩm T, sinh năm 1990; thƣờng trú: Số 4/6 khu phố Đ, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B; chỗ ở: Số 153/4 Thích Quảng Đ, khu dân cƣ C, thành phố T, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1985; thƣờng trú: Số 4/6 khu phố Đ, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ N:

Theo đơn khởi kiện ngày 01-10-2018 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Bùi Thị Cẩm T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Cẩm T và anh Nguyễn Ngọc T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2014, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B, đƣợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 195 ngày 17-12-2015. Chị T xác định trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thƣờng xuyên cãi nhau. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh T không giành thời gian chăm sóc gia đình, vợ chồng không tin tƣởng nhau về kinh tế, luôn bất đồng quan điểm làm cho cuộc sống hôn nhân ngày càng căng thẳng, không thể tiếp tục sống chung nên chị đã chuyển về sống cùng gia đình tại phƣờng C, thành phố T, tỉnh B từ tháng 7/2017 đến nay. Nay chị T khởi kiện yêu cầu đƣợc ly hôn với anh T.

- Về con chung: Quá trình chung sống chị T và anh T có 01 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc D, sinh ngày 04-9-2014. Hiện nay cháu Diệp đang sống với chị. Sau khi ly hôn chị T yêu cầu đƣợc quyền trực tiếp nuôi con và yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng đến khi con đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 14-3-2019 bị đơn anh Nguyễn Ngọc T trình bày: Anh thống nhất với lời khai của chị T đã cung cấp cho Tòa án về thời gian tìm hiểu, đăng ký kết hôn, thời gian sống chung của vợ chồng. Anh T thừa nhận vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thƣờng xuyên cãi nhau do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7/2017 đến nay. Anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Quá trình chung sống anh T và chị T có 01 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Diệp, sinh ngày 04-9-2014. Hiện nay cháu D đang sống với chị T. Sau khi ly hôn anh T đồng ý giao con cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng và thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng đến khi con đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án, nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN Đ NH CỦA TÒA N:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Chị Bùi Thị Cẩm T khởi kiện anh Nguyễn Ngọc T yêu cầu đƣợc ly hôn và nuôi con nên đây là vụ án hôn nhân và gia đình tranh chấp ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Ngọc T có nơi cƣ trú tại phƣờng Đông Hòa, thị xã Dĩ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Cẩm T và anh Nguyễn Ngọc T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B và đƣợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 195 ngày 17-12-2015 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Chị T xác định quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, thƣờng xuyên cãi nhau. Nguyên nhân là do anh T không giành thời gian chăm sóc gia đình, vợ chồng không tin tƣởng nhau về kinh tế, luôn bất đồng quan điểm, cuộc sống hôn nhân ngày càng căng thẳng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục sống chung với nhau nên chị đã chuyển về sinh sống cùng gia đình tại phƣờng C, thành phố T, tỉnh B từ tháng 7/2017 đến nay và yêu cầu đƣợc ly hôn. Anh T thừa nhận vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thƣờng xuyên cãi nhau do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân, hôn nhân thực tế không còn tồn tại nên đồng ý ly hôn. Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt đƣợc mục đích đó vợ chồng cần phải thƣơng yêu, tin tƣởng, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt, xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc. Chị T và anh T đều thừa nhận quan hệ hôn nhân của hai ngƣời có nhiều mâu thuẫn và hiện cả hai đã ly thân, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị T và anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Do đó, chị T yêu cầu đƣợc ly hôn với anh T là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị T và anh T có một con chung tên Nguyễn Thị Ngọc D, sinh ngày 04-9-2014 hiện đang sống với mẹ, chị T yêu cầu đƣợc quyền trực tiếp nuôi con và yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng đến khi con đủ 18 tuổi. Khi giải quyết việc ly hôn cần xem xét đến sự phát triển của con chƣa thành niên để quyết định việc giao con cho cha hay mẹ trực tiếp nuôi dƣỡng. Xét thấy, cháu D hiện còn nhỏ, từ trƣớc đến nay cháu sống cùng chị T vẫn phát triển tốt, tại biên bản lấy lời khai anh T đồng ý giao con cho chị T trực tiếp nuôi dƣỡng và đồng ý cấp dƣỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng đến khi con đủ 18 tuổi. Do đó chị T yêu cầu đƣợc quyền trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dƣỡng là có căn cứ chấp nhận, phù hợp các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[5] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị Cẩm T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Ngọc T phải chịu án phí cấp dƣỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 và các Điều 238, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Cẩm T đối với anh Nguyễn Ngọc T về việc ly hôn, nuôi con.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Cẩm T đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Ngọc D, sinh ngày 04-9-2014 cho chị Bùi Thị Cẩm T trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Anh T thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng; thời hạn cấp dƣỡng kể từ khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày ngƣời đƣợc yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ngƣời phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng ngƣời phải thi hành án còn phải chịu mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tƣơng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Sau ly hôn, chị T và anh T đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trƣờng hợp anh T lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến việc chị T nuôi con thì chị có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0027963, ngày 10-01-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Anh Nguyễn Ngọc T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dƣỡng nuôi con.

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ