- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "* Nguyên đơn: Chị Lê Thu H, sinh năm 1975; Đăng ký hộ khẩu và cư trú: Số 40 ngõ 20 T, phường T, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. * Bị đơn: An…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thu H;
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2019/HNGĐ-ST Ngày 22 tháng 8 năm 2019 V/v: Tranh chấp về ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị An
2. Bà Đỗ Thị Sỹ Long
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Lan Hương
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Bách Thiện Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 323/2019/TLST – HN&GĐ ngày 13 tháng 6 năm 2019 về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 207/2019/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số: 88/2019/QĐST-HPT ngày 02 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Lê Thu H, sinh năm 1975; Đăng ký hộ khẩu và cư trú: Số 40 ngõ 20 T, phường T, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1966; Đăng ký hộ khẩu và cư trú: Số 40 ngõ 20 T, phường T, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
(Chị H có mặt, anh H vắng mặt liên tiếp lần thứ hai không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thu H trình bày như sau:
Chị H và anh Nguyễn Văn H có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 03 tháng 11 năm 1994 tại UBND phường T, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại số 40 ngõ 20 T, phường T. Trong quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, không hạnh phúc. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình hai bên có biết và hòa giải nhưng không có kết quả. Nay Chị H xác định không còn tình cảm với anh H, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Tiến D, sinh ngày 20 tháng 7 năm 1995 và cháu Nguyễn Linh Chi, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2004. Khi ly hôn Chị H có nguyện vọng nuôi cháu Chi và không yêu cầu anh H đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu Dũng hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nhà ở: Chị H xác nhận tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn hai bên tự lo về nhà ở.
- Về khoản nợ: Chị H xác nhận không vay nợ nhau, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ.
Tại phiên tòa ngày hôm nay chị Lê Thu H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc triệu tập lấy lời khai và tham gia phiên hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn là anh Nguyễn Văn H nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải cho các đương sự được.
Tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt lần thứ hai liên tiếp không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo luật định.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định Điều 48; Điều 198; khoản 2, 3 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
+ Thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của người tham gia tố tụng Điều 28, 39, 40 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
+ Chuyển thông báo thụ lý vụ án, các quyết định đến Viện kiểm sát và các tống đạt cho đương sự theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 175; Điều 191; Điều 195; Điều 196; Điều 199 và khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
+ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời gian chuẩn bị xét xử đã được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định tại Điều 220; điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
+ Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo các nguyên tắc cơ bản về xét xử và thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quy định tại Điều 63; điểm b khoản 2 Điều 227 và chương II Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
+ Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51; Điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
+ Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 28; khoản 2 Điều 42; Điều 58; 63; 70 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn; về con chung căn cứ vào khả năng, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, đảm bảo quyền lợi của đương sự cũng như quyền lợi của con chung thì giao con chung cho Chị H trực tiếp trăm sóc nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H là phù hợp với quy định pháp luật. Về tài sản chung và nhà ở: Chị H xác nhận tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Sau khi ly hôn chị tự lo về nhà ở. Về vay nợ chung: Chị H xác nhận hai bên không vay nợ nhau, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ. Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để tuyên nguyên đơn chịu án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn, tuy nhiên bị đơn vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được cho anh chị, vì vậy Tòa án áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết vụ án đúng theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thu H và anh Nguyễn Văn H là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, không hạnh phúc. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình hai bên có biết và hòa giải nhưng không có kết quả. Nay Chị H xác định không còn tình cảm với anh H, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
[3] Tòa án đã tiến hành xác minh mâu thuẫn tại địa phương nơi vợ chồng chung sống. Ông Bùi Ngọc Nhân - Tổ trưởng tổ dân phố số 03 phường T, cho biết: Chị Lê Thu H và anh Nguyễn Văn H đăng ký kết hôn vào ngày 03 tháng 11 năm 1994 tại UBND phường T, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Trong quá trình vợ chồng chung sống tổ dân phố thấy có nhiều mâu thuẫn xảy ra, vợ chồng sống không hạnh phúc. Hiện nay chỉ còn mình Chị H sống tại số 40 ngõ 20 T, phường T, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, anh H đã bỏ đi nhưng Chị H có trao đổi thỉnh thoảng anh H có về nhà vào buổi tối. Tòa án đã tống đạt các văn bản cho anh H nhưng anh H không nhận. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Tiến D, sinh ngày 20 tháng 7 năm 1995 và cháu Nguyễn Linh C, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2004. Hiện cả hai cháu đang ở với mẹ tại số 40 ngõ 20 T, phường T, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Về tài sản chung và nhà ở: Tổ dân phố không nắm rõ về vấn đề tài sản chung và nhà ở của Chị H và anh H. Về khoản nợ: Tổ dân phố không nắm rõ vấn đề vay nợ của Chị H và anh H.
[4] Tòa án cũng tiến hành ghi ý kiến gia đình của chị Lê Thị H, sinh năm 1980; địa chỉ: Số 58, ngõ 74 T, phường T, là em gái ruột của chị Lê Thu H - nguyên đơn trong vụ án xin ly hôn với anh H. Qua trao đổi chị H cho biết: Chị H và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 03 tháng 11 năm 1994 tại UBND phường T. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại số 40 ngõ 20 T, phường T. Từ khoảng tháng 10 năm 2016 trở lại đây hai anh chị luôn bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Gia đình chị H đã biết mâu thuẫn của anh chị và đã giảng hòa nhưng không có kết quả. Hiện nay anh chị đã sống ly thân, Chị H hiện đang sinh sống tại số 40 ngõ 20 T, phường T; anh H đã bỏ đi nhưng Chị H có trao đổi thỉnh thoảng anh H có về nhà vào buổi tối. Nay Chị H không tình cảm với anh H, anh H không chăm lo cho gia đình nên đề nghị tòa án giải quyết cho hai anh chị được ly hôn.Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Tiến D, sinh ngày 20 tháng 7 năm 1995 và cháu Nguyễn Linh Chi, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2004. Hiện tại cả hai cháu đang ở với Chị H tại số 40 ngõ 20 T, phường T. Do anh H thường xuyên vắng nhà không chăm lo cho gia đình nên đề nghị để Chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung.Về tài sản chung và nhà ở: Quan điểm của gia đình để anh chị tự quyết định. Về khoản nợ: Gia đình chị H xác nhận không vay nợ anh chị và anh chị cũng không vay nợ gì gia đình chị H.
[5] Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, trong quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, hai bên gia đình đã hòa giải nhưng không có kết quả. Tòa án cũng đã nhiều lần tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ tuy nhiên không có kết quả vì anh H vắng mặt. Anh chị cũng đã sống ly thân từ khoảng cuối năm 2016 thể hiện tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không có, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho Chị H được ly hôn anh H là phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] Về con chung: Theo nguyện vọng của cháu Chi tại bản tự khai mong được mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Xét điều kiện kinh tế của Chị H đủ khả năng để nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì vậy để Chị H trực tiếp nuôi cháu Chi là phù hợp với thực tế, phù hợp với quy định của pháp luật. Do Chị H không yêu cầu anh H đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn việc thực hiện nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H. Cháu D hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[7] Về tài sản chung: Chị H xác nhận vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét;
Về khoản nợ chung: Chị H xác nhận vợ chồng không vay nợ nhau. Vợ chồng không vay nợ ai và không cho ai vay nợ.
[8] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm;
[10] Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Từ các căn cứ và nhận định của Hội đồng xét xử;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ các Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39: Điều 70; Khoản 4 Điều 147; các Điều 203; 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thu H;
Chị Lê Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
2. Về con chung: Giao Chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Linh Chi, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2004 kể từ tháng 9 năm 2019 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật. Tạm hoãn việc thực hiện nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H cho đến khi Chị H có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật. Cháu Nguyễn Tiến D, sinh ngày 20 tháng 7 năm 1995 hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Nguyễn Văn H có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nhà ở: Chị H xác nhận tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Sau khi ly hôn chị tự lo về nhà ở.
Về vay nợ chung: Chị H xác nhận hai bên không vay nợ nhau, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ.
4. Về án phí: Chị Lê Thu H phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 5565 ngày 13 tháng 6 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày 22 tháng 8 năm 2019. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường nơi bị đơn cư trú.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình; - Chi Cục THA dân sự quận Ba Đình; - UBND phường T, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Ngọc Long |