vanban.org

Bản án 30/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị M.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Cao Văn T. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả hai con chung là Cao Ngọc H, sinh ngày 15/12/2016 và Cao Ngọc H1, sinh ngày 13/11/2018 đến khi thành niên. Chị Nguyễn Thị M tự… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị M ly hôn anh Cao Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YL
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 31/10/2019
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn”

NH DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YL, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Ông Phạm Tuấn Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thẩm Văn Minh

Ông Nguyễn Ngọc Thưởng

Thư ký phiên toà: Bà Đinh Kiều Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 144/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M

Sinh năm 1998 Trú tại: Khu T, xã L, huyện YL, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Cao Văn T

Sinh năm 1995 Trú tại: Khu H, xã L, huyện YL, tỉnh Phú Thọ.

(Chị M có mặt, anh T vắng mặt lần 2 không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày tại đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 03/7/2019 và tại phiên tòa hôm nay như sau:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Cao Văn T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện YL, tỉnh Phú Thọ, ngày 04/11/2016. Thời gian đầu chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc, sau đó sảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh T thường xuyên uống rượu về đánh đập, chửi vợ con, chị và gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh T vẫn không thay đổi, vợ chồng sống ly thân nhau đầu năm 2019 không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn không thể trở về đoàn tụ được nữa, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

2. Về con chung: Quá trình chung sống, anh chị có 02 (hai) con chung: là Cao Ngọc H, sinh ngày 15/12/2016 và Cao Ngọc H1, sinh ngày 13/11/2018, hiện nay đang sống cùng chị, sau ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

3. Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Cao Văn T trong quá trình giải quyết vụ án đã được cấp, tống đạt, thống báo, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng vẫn vắng mặt. Việc anh T vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nên không có quan điểm của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn.

4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng của vụ án: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án đều thực hiện đúng quy định của pháp luật. Anh T chưa thực hiện đúng quy định pháp luật.

Nhận định: Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nH và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Cao Văn T.

Về con chung: Đề nghị giao cho chị Nguyễn Thị M được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Cao Ngọc H, sinh ngày 15/12/2016 và Cao Ngọc H1, sinh ngày 13/11/2018, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị M (do chị M tự nguyện không yêu cầu).

Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: chị M không đề nghị Tòa án giải quyết, nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Căn cứ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị M, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Do anh Cao Văn T hiện đang cư trú tại khu H, xã L, huyện YL, tỉnh Phú Thọ, nên Tòa án nhân dân huyện YL đã thụ lý giải quyết vụ án theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Toà án đã cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết hợp lệ đối với anh T: Thông báo thụ lý vụ án, Biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định tại các Điều 171, 172, 173, 174, 175 và 177 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay anh T vắng mặt lần 2 nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nH: Chị Nguyễn Thị M và Cao Văn T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện YL, tỉnh Phú Thọ, ngày 04/11/2016, theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân gia đình, đây là hôn nhân hợp pháp.

Chị M xác định trong quá trình chung sống tình cảm vợ chồng chỉ hòa thuận, hạnh phúc thời gian đầu sau đó sảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn Chị M xác định do anh T thường xuyên uống rượu về đánh đập, chửi vợ con, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ nhiều năm nay và không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, không thể trở về đoàn tụ được nữa, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Quá trình giải quyết vụ án anh T không đến Tòa án làm việc nên không tiến hành hòa giải được. Qua xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị M và anh T với đại diện UBND và các tổ chức đoàn thể của xã L (Bút lục số 31,32) như: Hội phụ nữ, trưởng khu, tư pháp xã đã thể hiện quan điểm chung là chị M và anh T trong cuộc sống vợ chồng có mâu thuẫn, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân nhau, nên đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật và thực tế tình trạng hôn nhân của hai vợ chồng để giải quyết cho chị M được ly hôn anh T.

Xét thấy tình cảm giữa chị M và anh T thực sự không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên việc chị M xin ly anh T là có căn cứ, đúng thực tế phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình. Vì vậy nên xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Cao Văn T.

Về con chung: Chị M và anh T có 02 con chung là Cao Ngọc H, sinh ngày 15/12/2016 và Cao Ngọc H1, sinh ngày 13/11/2018, sau ly hôn chị M đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Xét thấy anh T không đến Tòa án làm việc để thể hiện nguyện vọng được nuôi con. Do đó, chị M có đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị là có căn cứ chấp nhận.

Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị M phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, 57, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị M.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Cao Văn T.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả hai con chung là Cao Ngọc H, sinh ngày 15/12/2016 và Cao Ngọc H1, sinh ngày 13/11/2018 đến khi thành niên. Chị Nguyễn Thị M tự nguyện không yêu cầu anh Cao Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Cao Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Xác nhận chị M đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2018/0001090 ngày 03/7/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện YL, tỉnh Phú Thọ. Nay được chuyển thành án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt được quyền kháng cáo, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bán án được niêm yết nơi đương sự cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ