vanban.org

Bản án 30/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị T và anh Dương Văn L.

Về con chung: Đối với cháu Dương Văn Th, sinh ngày 15/7/1997 hiện nay cháu Th đã có cuộc sống tự lập, nên chị T và anh L không có yêu cầu giải quyết về quyền nuôi con đối với cháu Th. Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh L tự thỏa thuận giải quyết với nhau, không có yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị T và anh Dương Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố; Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 30/2019/HNGĐ-ST
Ngày 30 - 7 - 2019
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH - TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thành Triều.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hoàng Liêm;

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Trang, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Không có tham gia.

Ngày 30 tháng 7 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 285/2018/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2018; về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2019/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm: 1979 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện Th, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Dương Văn L, sinh năm: 1976 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện Th, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp – hòa giải và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày: Chị và anh Dương Văn L sau khi quen biết, tự tìm hiểu nhau thì anh chị thống nhất chung sống vợ chồng vơi nhau vào năm 1998; việc anh chị chung sống là tự nguyện, không bị cưỡng ép; anh chị chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc; nhưng đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, do vợ chồng thường xuyên bất đồng ý kiến với nhau dẫn đến việc cự cải thường ngày. Từ năm 2014 đến nay, anh chị ly thân với nhau mà không hàn gắn tình cảm lại được; hiện nay mỗi người đều có cuộc sống, công việc riêng và anh L đã có vợ khác. Nay chị không còn tình cảm với anh L nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn theo quy định.

Về con chung: Chị và anh L có 01 con chung là cháu Dương Văn Th, sinh ngày 15/7/1997; nay cháu Th đã trưởng thành và có công việc thu nhập mỗi tháng khoảng 7.000.000đ và cuộc sống ổn định, nên chị không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh L thống nhất tự thỏa thuận với nhau, không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai, biên bản phiên họp - hòa giải bị đơn anh Dương Văn L trình bày: Anh thống nhất với chị Lê Thị T về việc anh chị chung sống với nhau như trên; anh chị không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian đầu chung sống thì vợ chồng có cuộc sống hạnh phúc; nhưng đến năm 2013 thì anh chị phát sinh mâu thuẫn ngày càng trầm trọng; do vợ chồng thường xuyên bất đồng ý kiến thường xuyên cự cải với nhau. Từ năm 2014 đến nay, anh chị sống ly thân với nhau mà không hàn gắn tình cảm lại được; hiện nay anh chị mỗi người đều có cuộc sống, công việc riêng. Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh thống nhất ly hôn với chị T.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Dương Văn Th, sinh ngày 15/7/1997; nay cháu Th đã trưởng thành có công việc và cuộc sống ổn định, nên anh không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh và chị T thống nhất tự thỏa thuận với nhau, không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nội dung tranh chấp giữa chị Lê Thị T và anh Dương Văn L làm phát sinh “Tranh chấp ly hôn” được quy định tại Điều 9, 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình thụ lý giải quyết là đúng theo quy định pháp luật; về thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35, 36, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt anh Dương Văn L, nhưng anh L đã có đơn xin xét xử vắng mặt; do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh L là phù hợp theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Lê Thị T và anh Dương Văn L được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, không bị cưỡng ép; nhưng anh chị chung sống với nhau không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật; nay chị T yêu cầu ly hôn và anh L thống nhất ly hôn, nên làm phát sinh tranh chấp hôn nhân.

Xét việc chị T và anh L chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn, là vi phạm Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch; việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.

Và theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC – VKSNDTC - BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau: “Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý, giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình”.

Vì vậy, căn cứ vào quy định trên, không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị T và anh Dương Văn L là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung: Đối với cháu Dương Văn Th, sinh ngày 15/7/1997 hiện nay cháu Th đã 22 tuổi; hiện cháu Th đã có cuộc sống tự lập, có công việc làm ổn định, cháu Th có văn bản trình bày ý kiến muốn sống tự lập không ở với cha hay mẹ; đồng thời, chị T và anh L không có yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về quyền nuôi con; do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết là phù hợp.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh L thống nhất tự thỏa thuận với nhau, không có yêu cầu Tòa án giải quyết; nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết là phù hợp.

Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 36, 39, 147, 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 9, Điều 14, Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC - VKSNDTC - BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ tư pháp; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị T và anh Dương Văn L.

2. Về con chung: Đối với cháu Dương Văn Th, sinh ngày 15/7/1997 hiện nay cháu Th đã có cuộc sống tự lập, nên chị T và anh L không có yêu cầu giải quyết về quyền nuôi con đối với cháu Th.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh L tự thỏa thuận giải quyết với nhau, không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Chị Lê Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn; được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004460, ngày 07 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án. Riêng anh L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao (bản án) hoặc kể từ ngày Tòa niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đ i, b sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ