vanban.org

Bản án 30/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Vi Thị D ly hôn với anh Vương Xuân N.

Về nuôi con: Giao cho chị Vi Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vương Bảo N - Sinh ngày 02/12/2013 đến đủ 18 tuổi. Anh Vương Xuân N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Vương Xuân N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn Vi Thị D và Vương Xuân N"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Vi Thị D ly hôn với anh Vương Xuân N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO THẮNG
TỈNH LÀO CAI
_____________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2019/HNGĐ–ST.
Ngày 03/10/2019.
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Ngọc Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hà;

2. Ông Lương Tuất Mạnh.

Thư ký phiên toà: Ông Ngô Hoàng Tùng – Thư ký, Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 10 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 141/2019/TLST – HNGĐ, ngày 24 tháng 5 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2019/QĐXXST–HNGĐ, ngày 26 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vi Thị D - Sinh năm 1993.

Địa chỉ: Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn N, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai.

Nơi ở: Thôn L, xã K, huyện V, tỉnh Lào Cai.

2. Bị đơn: Anh Vương Xuân N - Sinh năm 1992.

Địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 5 năm 2019 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa xét xử, nguyên đơn chị Vi Thị D trình bầy:

Về Hôn nhân: Chị Vi Thị D và anh Vương Xuân N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 06/6/2013 tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn chị Vi Thị D và anh Vương Xuân N chung sống hòa thuận được một thời gian ngắn, thì phát sinh mâu thuẫn, đến tháng 4/2018 thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân, do hai vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau và xúc phạm lẫn nhau, anh Vương Xuân N sử dụng ma túy, không quan tâm đến gia đình, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Từ tháng 4/2018 chị Vi Thị D và anh Vương Xuân N sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Nay chị Vi Thị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, chị Vi Thị D đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vương Xuân N.

Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh Vương Xuân N có 01 con chung là cháu Vương Bảo N - Sinh ngày 02/12/2013. Khi ly hôn chị Vi Thị D đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai giải quyết cho chị được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vương Bảo N, chị Vi Thị D không yêu cầu anh Vương Xuân N phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nghĩa vụ về tài sản chung: Quá trình chung sống chị Vi Thị D và anh Vương Xuân N không có tài sản chung; không vay nợ ai và không cho ai vay nợ, nên chị Vi Thị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Vương Xuân N: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Vương Xuân N bằng hình thức niêm yết theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nhưng anh Vương Xuân N không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ. Anh Vương Xuân N vắng mặt tại các phiên tòa ngày 11/9/2019; 03/10/2019 không có lý do. Do đó việc giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập.

Tại phiên toà, nguyên đơn chị Vi Thị D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà, phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng tại phiên toà là đúng theo các quy định của pháp luật, đảm bảo đúng trình tự luật định, không vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ đảm bảo đúng pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng khoản 4, Điều 147; điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 56; Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Vi Thị D được ly hôn với anh Vương Xuân N.

Về nuôi con: Đề nghị giao cho chị Vi Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vương Bảo N - Sinh ngày 02/12/2013 đến đủ 18 tuổi. Anh Vương Xuân N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ngoài ra còn đề nghị tuyên nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa bị đơn anh Vương Xuân N đã được Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có yêu cầu phản tố. Căn cứ vào điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về hôn nhân: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên toà đã xác định: Chị Vi Thị D và anh Vương Xuân N đăng ký kết hôn vào ngày 06/6/2013 tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn chị Vi Thị D và anh Vương Xuân N sống hòa thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, đến tháng 4/2018 thì mâu thuẫn xảy ra trầm trọng. Nguyên nhân theo lời khai của chị Vi Thị D, do không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau và xúc phạm lẫn nhau, anh Vương Xuân N nghiện chất ma túy, không quan tâm đến gia đình, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Từ tháng 4/2018 chị Vi Thị D và anh Vương Xuân N sống ly thân, không quan tâm đến nhau.

Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình chung sống của chị Vi Thị D và anh Vương Xuân N từ tháng 6/2013 đến tháng 4/2018 phát sinh mâu thuẫn anh chị đã ly thân sống mỗi người một nơi không quan tâm đến nhau. Đại diện thôn Nậm Choỏng, xã Bản Cầm,huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai và Công an xã Bản Cầm, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, cũng đã xác định quá trình sinh sống tại địa phương chị Vi Thị D và anh Vương Xuân N, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đánh cãi nhau, vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi là đúng sự thật. Anh Vương Xuân N là đối tượng nghiện chất ma túy đã 05 năm đến nay chưa cai nghiện được. Điều này chứng minh lời khai của chị Vi Thị D là đúng sự thật, hôn nhân của chị Vi Thị D và anh Vương Xuân N lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, anh chị Vi Thị D yêu cầu ly hôn với anh Vương Xuân N là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về nuôi con: Chị Vi Thị D và anh Vương Xuân N có 01 con chung là cháu Vương Bảo N - Sinh ngày 02/12/2013. Chị Vi Thị D yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vương Bảo N đến đủ 18 tuổi.

Hội đồng xét xử xét thấy: Việc giao con cho ai nuôi dưỡng phải đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên. Trong vụ án này, quá trình tố tụng giải quyết vụ án anh Vương Xuân N không có ý kiến về vấn đề tranh chấp nuôi con, bản thân là đối tượng nghiện chất ma túy chưa cai nghiện được, sống lang thang, thường xuyên không có mặt tại nơi cư trú. Hiện nay cháu Vương Bảo N còn rất nhỏ cần có sự chăm sóc của người mẹ; chị Vi Thị D có thu nhập ổn định. Vì vậy, cần giao cháu Vương Bảo N cho chị Vi Thị D chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với các điều 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng: Chị Vi Thị D không yêu cầu anh Vương Xuân N phải cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và quyền, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Vi Thị D không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Vi Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4, Điều 147; điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1, Điều 56; Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và Gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Vi Thị D ly hôn với anh Vương Xuân N.

2. Về nuôi con: Giao cho chị Vi Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vương Bảo N - Sinh ngày 02/12/2013 đến đủ 18 tuổi. Anh Vương Xuân N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Vương Xuân N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.

3. Về án phí: Chị Vi Thị D phải chịu 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000046 ngày 24 tháng 5 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn chị Vi Thị D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn anh Vương Xuân N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ