vanban.org

Bản án 30/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Hải An, TP. Hải Phòng Tuyên án 29/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nghiêm Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nghiêm Văn H 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 26/6/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nghiêm Văn Hải- TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nghiêm Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2018/HSST
Ngày 29-10-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢ I AN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Đức Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Chí Linh

Ông Nguyễn Văn Hiếu

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quyên - Thư ký Toà án nhân dân quận H, thành phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H , thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Yến Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quâ ̣n Hải An , thành phố H Phòng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2018/TLST-HS ngày 21 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2018/QĐXXT-HS ngày 10/10/2018 đối với bị cáo:

Nghiêm Văn H, sinh ngày 30/6/1976 tại H; nơi ĐKHKTT và nơi ở: Số 80A P, TDP P 4, phường Đ, quận H, thành phố H; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nghiêm Văn Thụ và bà Nguyễn Thị Nhường (đều còn sống); gia đình có ba anh em, H là thứ nhất; bị cáo có vợ là Ngô Thị Lý và có 02 con là Nghiêm Khánh Linh và Nghiêm Văn Hùng; tiền án, tiền sự: Chưa có; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/6/2018, đến ngày 02/7/2018 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố H; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bản cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 19/9/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân quận H thành phố H truy tố Nghiêm Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015.

Tóm tắt nội dung vụ án như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên khoảng 11h45’ ngày 25/6/2018, Nghiêm Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave RS màu đỏ-đen BKS 16L-6854 đi từ nhà đên khu vực đường Máng, xã A, huyện A, thành phố H mua của một người đàn ông không quen biết cao khoảng 1m60, độ tuổi khoảng 45-50 (không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 gói ma túy “đá” với giá 250.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H bỏ vào trong túi quần phía trước, bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khoảng 12h15’, khi về đến trước cử số nhà 80A P, TDP P, phường Đ 1, quận H, thành phô H Phòng thì bị lực lượng Công an phường Đ1 kiểm tra hành chính, thu giữ trên người H gói ma túy, nên đã đưa H cùng tang vật về công an phường lập biên bản xử lý.

Tại Bản kết luận giám định số 364/KLGĐ (Đ6) ngày 26/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H kết luận: Đối với mẫu tinh thể màu trắng thu giữ của Nghiêm Văn H, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H An gửi giám định là ma túy có khối lượng là 0,4193 gam là loại Methamphetamine (Bút lục 22).

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa: Bị cáo Nghiêm Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi cất giữ trái phép 01 gói nilon chứa tinh thể rắn màu trắng, kích thước 02x02cm là ma túy có khối lượng là 0,4193 gam là loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân như nội dung vụ án đã nêu ở trên. Lời khai nhận tội của Nghiêm Văn H được thể hiện tại các (Bút lục 45-63) phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang (Bút lục 37, 38), lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Qua xem xét đánh giá chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra, cùng lời khai nhận của bị cáo, lời khai người làm chứng. Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận H An giữ nguyên quan điểm truy tố bị can Nghiêm Văn H theo tội danh cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nghiêm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Nghiêm Văn H với mức hình phạt từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.

Bị cáo không có việc làm, không có tài sản riêng, nên đề xuất không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với phong bì có số niêm phong 364/2018/PC54 có chữ ký của Nghiêm Văn H và những người liên quan đựng số ma túy sau giám định, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave RS màu đỏ-đen BKS 16L-6854, qua điều tra xác định được chủ sở hữu hợp pháp là chị Ngô Thị L (vợ của Nghiêm Văn H) khi H lấy xe sử dụng để đi mua ma túy, chị Lý không biêt, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, thành phố H đã tiến hành trả lại cho chị Ngô Thị L (Bút lục 32-36), nên không đặt ra xem xét.

Bị cáo Nghiêm Văn H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy

2

đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận H, thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố H và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp, đung quy định pháp luật.

- Về tội danh:

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Nghiêm Văn H như đã nêu ở trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; vi phạm Điều 3 Luật phòng, chống ma túy; lời khai về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng với tang vật chứng đã được thu giữ trong vụ án. Căn cứ vào các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Bản kết luận giám định số 364/KLGĐ(Đ6) ngày 26/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H Phòng kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng thu giữ của Nghiêm Văn H, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H gửi giám định là ma túy có khối lượng là 0,4193 gam là loại Methamphetamine nằm trong danh mục quy định tại Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Từ những phân tích trên và quan điểm truy tố của Viện Kiểm sát tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận bị cáo Nghiêm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015.

- Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Xét bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng, tại Cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015. Vì vậy Hội đồng xét xử xét cần cho bị cáo H được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như đã nêu là hoàn toàn có căn cứ, nên chấp nhận.

- Về hình phạt áp dụng:

Xét tội phạm mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và buộc bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

3

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS năm 2015 thì tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét bị cáo không có việc làm, không có tài sản riêng, trên cơ sở quan điểm đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận, nên Hội đồng xét xử cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

Cơ quan công an thu giữ của bị cáo H 01 gói nilon màu trắng, kích thước 02x02cm chứa các tinh thể rắn màu trắng dạng đá được kết luận giám định là Methamphetamine có khối lượng 0,4193 gam xác định là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật dùng chứa chất ma túy, cần tịch thu tiêu hủy.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của bị cáo nhãn hiệu Wave RS màu đỏ-đen BKS 16L-6854 của chủ sở hữu là chị Ngô Thị L. Cơ quan điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo đã trả lại cho chị Lý, nên Hội đồng xet xử không đặt ra xem xét xử lý.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nghiêm Văn H, tài liệu điều tra hiện không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

Bị cáo pH nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nghiêm Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

1. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nghiêm Văn H 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 26/6/2018.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong có số niêm phong 364/2018/PC54 trong chứa chất ma túy Methamphetamine đã giám định thu giữ của bị cáo, theo biên bản giao nhận vật chứng đã chuyển cho Chi cục thi hành án Dân sự quận H, thành phố H ngày 19/9/2018.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nghiêm Văn H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

4

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án , quyết đi ̣nh được thi hành theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 2 Luâ ̣t thi hành án dân sự thi ngườ i được thi hành án dân sự , ngườ i phải thi hành án dân

̀ sự có quyền thỏa thuâ ̣n thi hành án , quyền yêu cầu thi hành án , tự nguyê ̣n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luâ ̣t thi hành án dân sự; thờ i hiê ̣u thi hành án được thực hiê ̣n theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 30 Luâ ̣t thi hành án dân sự.

Cỡ chữ