- Tranh chấp gì? án hình sự — "vu an ve ma tuy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUAN G, TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 30/2018/HS-ST Ngày: 24/04/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUAN G, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Hồng Chiến Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thúy Hà, ông Nguyễn Đức Việt - Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Doanh - Kiểm sát viên. Ngày 24 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tò a công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 24/2018/HSST ngày 19 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2018/HSST-QĐ ngày 10/4/2018 đối với bị cáo: Nông Minh V., sinh ngày 12/8/1992 tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 7/12; con ông: Nông Kim S, sinh năm 1953 và bà Lý Thị M, sinh năm 1960; vợ con: Chưa có; Tiền án: Không. Tiền sự: có 01 tiền sự, ngày 19/12/2017 bị công an xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, phạt tiền 750.000 đồng (Quyết định số 06/QĐ-XPHC ngày 19/02/2017) Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/01/2018 đến ngày 18/01/2018, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt). * Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Kim T. - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nông Minh V. là người nghiện ma túy, khoảng 15 giờ ngày 12/01/2018 V. điện thoại cho một người đàn ông tên Q. (V. không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của Q.) hỏi mua ma túy, Q. đồng ý và hẹn V. đến khu vực cầu Nông Tiến thuộc phường Nông Tiến, thành phố Tuyên Quang. Sau đó V. đến gặp Q. và mua 300.000 đồng được 01 gói nhỏ bọc ngoài bằng lớp nilon mầu trắng bên trong chứa các hạt tinh thể mầu trắng. Mua được ma túy xong V. đi về, khi đến khu vực Quảng trường Nguyễn Tất Thành thuộc tổ 1, phường
M. thì bị tổ công tác Công an thành phố T, tỉnh Tuyên Quang phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ gói ma túy V. vừa mua của Q. và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J5. Tại Kết luận giám định số 61/GĐKTHS ngày 15/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Số chất tinh thể mầu trắng thu giữ của Nông Minh V. là Methamphetamine, là chất ma túy tổng hợp thuộc nhóm ATS, khối lượng 0,210 gam. Trước đó ngày 17/12/2017 bị cáo V. có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 750.000 đồng (V. chưa thi hành khoản tiền phạt). Từ nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 27/QĐ-KSĐT ngày 16 tháng 3 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Nông Minh V. về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. * Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nông Minh V. phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Về Điều luật và mức hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nông Minh V. từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, trong có chứa chất ma túy, Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J5 nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án. Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. * Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nông Minh V. đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung cáo trạng truy tố đối với bị cáo; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang; bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Khi nói lời sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. * Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm nhất trí với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố đối với bị cáo Nông Minh V. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, bố bị cáo là ông Nông Kim S. có công với cách mạng được tặng thưởng huy chương kháng chiến, gia đình thuộc diện hộ cận nghèo, là dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên xử cho bị cáo được hưởng mức khởi điểm của khung hình phạt. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo và trả lại chiếc điện thoại SAMSUNG Galaxy J5 cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuyên Quang, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nông Minh V. tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh qua biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 12/01/2018, tại tổ 1, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, bị cáo Nông Minh V. đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,210 gam Methamphetamine, là chất ma túy tổng hợp thuộc nhóm ATS. Bị cáo là người có năng lực hành vi dân sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý sử dụng của nhà nước về chất ma tuý. Hành vi của bị cáo được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội Tàng trữ tái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và có cơ sở, cần chấp nhận. [3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huy chương Kháng chiến. Ngoài ra bị cáo còn là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật hạn chế. Do vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. [5] Về mức án đối với bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân thường gây ra các tội phạm, tệ nạn xã hội khác; Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy nhưng lại không lấy đó làm bài học cải tạo bản thân trở thành người có ích cho xã hội mà còn phạm tội mới. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.
Vì bị cáo có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa chấp hành hình phạt lại còn tiếp tục mua ma túy về sử dụng, điều đó thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo nên đề nghị của người bào chữa cho bị cáo được hưởng mức hình phạt khởi điểm của khung hinh phạt không có cơ sở xem xét. [6] Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo Nông Minh V. không có tài sản gì có giá trị, gia đình thuộc diện hộ cận nghèo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. [7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ của bị cáo Số chất tinh thể mầu trắng là Methamphetamine, là chất ma túy tổng hợp thuộc nhóm ATS, khối lượng 0,210 gam. Sau khi lấy đi giám định số còn lại cùng bao bì được niêm phong trong 1 phong bì có dấu giáp lai của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, trên phong bì ghi “tang vật vụ Nông Minh V, giám định ngày 12/01/2018”. Đây là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu huỷ. Thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J5 là tài sản của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo nhưng giữ lại để đảm bảo việc thi hành án. [8] Đối với hành vi bán trái phép chất ma túy của Q. cho bị cáo Nông Minh V, do không biết tên, tuổi, địa chỉ nên không có cơ sở xem xét xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét. [9] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. [10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: - Tuyên bố: Bị cáo Nông Minh V. phạm tội “Tàng trữ tái phép chất ma túy”. - Xử phạt bị cáo Nông Minh V. 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 12/01/2018 đến ngày 18/01/2018. * Căn cứ vào: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: - Tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn có dấu giáp lai của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, trên phong bì ghi “tang vật vụ Nông Minh V., giám định ngày 12/01/2018” trong có chứa Methamphetamine, là chất ma túy tổng hợp thuộc nhóm ATS (đối tượng hoàn lại), là tang vật của vụ án thuộc loại nhà nước cấm lưu hành. - Trả lại cho bị cáo V. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J5 nhưng giữ lại để đảm bảo việc thi hành án. (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/3/2018 giữa Công an thành phố Tuyên Quang với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang)
* Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: - Về án phí: Bị cáo Nông Minh V. phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. - Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh TQ - VKS ND tỉnh TQ; - VKS ND thành phố TQ; - Công an thành phố; - Chi cục THADS thành phố; - Sở Tư pháp tỉnh TQ; - Chánh án TAND thành phố TQ; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Người tham gia tố tụng ; Tạ Hồng Chiến - Hồ sơ vụ án hình sự; - Thi hành án hình sự; - Lưu HS. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |