- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo TVC phạm tội: “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2018/HS-ST Ngày: 06-9-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Viết Nguyên
2. Ông Lưu Thế Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa – Thư ký Tòa án, TAND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hùng Tâm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 9 năm 2018, tại Trụ sở TAND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2018/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2018/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: TVC - Sinh ngày: 14/02/1960. Tại: xã Q, huyện Y, Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn 6, xã Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Bố: TVT (đã chết), Mẹ: TTD (đã chết); Gia đình có 3 chị em, bị cáo TVC là con thứ 2; bị cáo có vợ LTT, sinh năm 1963, hiện đang sinh sống tại thôn 6, xã Q, huyện Y; có 03 con, lớn nhất 35 tuổi, nhỏ nhất 27 tuổi.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/5/2018 đến ngày 29/5/2018 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Người làm chứng: LVH, sinh năm 1967, NKĐ, sinh năm 1975, TĐT, sinh năm 1957.
Đều trú tại: xã Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa có mặt bị cáo, vắng mặt tất cả các người làm chứng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có ý định ghi lô, đề cho khách để kiếm lời nên khoảng 15 giờ ngày 26/5/2018, TVC ở nhà mình đã chuẩn bị giấy bút, thực hiện việc ghi lô, đề. Khi có người đến, họ sẽ đọc những số lô, đề và số tiền đánh tương ứng để bị cáo TVC viết vào một tờ giấy nhỏ (gọi là các đề) và đưa cho người chơi giữ làm cơ sở tính thắng thua. Tỷ lệ thắng thua được tính như sau: Đối với số đề người chơi đánh 1.000đ sẽ được 70.000đ; đối với số lô, cứ mỗi điểm lô bị cáo TVC thu của người chơi 22.000đ, nếu trúng thì phải trả cho người chơi 80.000đ; tương tự, lô xuyên hai người chơi đánh 10.000đ nếu trúng được 100.000đ, lô xuyên ba người chơi đánh 10.000đ nếu trúng được 400.000đ; đối với đề ba càng người chơi đánh 1.000đ nếu trúng được 400.000đ. Việc tính thắng thua căn cứ vào kết quả sổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng trong ngày, cụ thể: Số đề được tính là thắng khi trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt, số lô thắng khi trùng với 02 số cuối của tất cả các giải từ giải đặc biệt đến giải 7; xuyên hai, xuyên ba được tính là thắng khi có cặp hai số hoặc ba số trùng với hai số hoặc ba số cuối của tất cả các giải; ba càng là số có 3 chữ số trùng với 3 số cuối của giải đặc biệt. Sau khi có kết quả sổ số mở thưởng, người chơi sẽ mang các đề đến để tính thắng thua với TVC, nếu thắng sẽ được trả thưởng, nếu thua sẽ mất số tiền đã đánh.
Trong chiều ngày 26/5/2018, TVC đã nhận ghi lô, đề của NKĐ, LVH, TĐT đều ở xã Q, huyện Y và một số người qua đường đến đánh trực tiếp tại nhà bị cáo TVC, tổng hợp thành một bảng lô, đề với tổng số tiền là 7.677.000đ bao gồm 342 số đề = 4.959.000đ, 27 số lô thường tương ứng 119 điểm = 2.618.000đ, 01 số lô xuyên 2 = 90.000đ, 01 số lô xuyên 3 = 10.000đ. Khi bị bắt cơ quan công an đã thu giữ của bị cáo TVC 01 bảng lô, đề, số tiền mặt 1.106.000đ, 01 chiếc bút bi mực màu đen, 01ruột bút bi sọc đen trắng.
Tại cơ quan điều tra TVC đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tang vật, tài liệu đã thu được có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 27 ngày 28/7/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định đã truy tố bị cáo TVC về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 35, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 46 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để xử phạt bị cáo TVC từ 20.000.000đ đến 22.000.000đ để nộp ngân sách Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bút bi có ruột bút mực màu đen và 01ruột bút bi sọc đen trắng; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 1.106.000đ thu lời bất chính từ việc đánh bạc và 6.571.000đ trong số tiền 6.785.000đ mà bị cáo nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định. Số tiền còn lại 214.000đ trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo TVC khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan điều tra Công an huyện Yên Định, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về tội danh: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo TVC thừa nhận: Vào chiều ngày 26/5/2018 bị cáo đã nhận ghi lô, đề của người chơi, tổng hợp được 1 bảng lô, đề với tổng số tiền 7.677.000đ, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo TVC phạm tội Đánh bạc, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.
Trong vụ án này còn có NKĐ, LVH, TĐT cùng tham gia đánh bạc với bị cáo TVC nhưng số tiền đánh bạc của những người này không đủ định lượng theo quy định của pháp luật để truy tố về tội đánh bạc, nên cơ quan điều tra công an huyện Yên Định đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Đại, Hiệp, Tuấn là phù hợp.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Nhưng xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội ít nghiêm trọng, hình thức đánh bạc giản đơn, không sử dụng phương tiện công nghệ kỹ thuật cao đề phạm tội, số lượng tiền ghi lô, đề không lớn, do vậy chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành người công dân tốt.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có bố là người đã có công với cách mạng được tặng bằng khen của Thủ tưởng Chính phủ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Chiếc bút bi có ruột bút mực màu đen và 01ruột bút bi sọc đen trắng là công cụ mà bị cáo dùng để ghi số lô, đề, không còn giá trị sử dụng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, cần tịch thu tiêu hủy. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền ghi lô, đề của bị cáo ngày 26/5/2018 là 7.677.000đ, được trừ vào số tiền 1.106.000đ thu tại nhà bị cáo và 6.785.000đ bị cáo nộp trước tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, còn lại 214.000đ cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: Bị cáo TVC phạm tội: “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo TVC 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bút bi có ruột bút mực màu đen, 01ruột bút bi sọc đen trắng theo phiếu nhập kho số NK000254 ngày 31/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền ghi lô, đề của bị cáo ngày 26/5/2018 là 7.677.000đ, được trừ vào số tiền 1.106.000đ thu tại nhà bị cáo, theo biên lai thu số AA/2015/0000160 ngày 31/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Định, và 6.785.000đ bị cáo nộp trước tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, theo biên lai thu số AA/2015/0000155 ngày 26/6/2018, số tiền còn lại 214.000đ trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo TVC phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Yên Định, - Công an huyện Yên Định; - Bị cáo; - Chi cục THADS huyện Yên Định; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Hoàng |