- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn T, Phạm tội "tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Điểm c, khoản 1 điều 249; Điều 38; điểm s, khoản 1, điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2018/HS-ST Ngày 28-8-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT - TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thành
2. Bà Lò Thị Thiết
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Hằng, Thư ký - Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát tham gia phiên tòa: Ông Phạm Viết Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Lát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 25/2018/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2018; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 31/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lương Văn T - Sinh năm 1965.
Nơi sinh: Xã Thành S, huyện Quan H, tỉnh Thanh Hóa;
Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Bản Thành Y, xã Thành S, huyện Quan H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Trình độ văn hóa: 5/12; Con ông: Lương Văn S, đã chết; Con bà: Hà Thị K, đã chết; Vợ: Hà Thị H, sinh năm 1965; con có 02, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1990.
Nhân thân: Tại bản án số 310/HSST ngày 14/11/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử và xử phạt Lương Văn T 15 (Mười lăm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tại bản án số 329/HSSP ngày 27/3/2003 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao đã y án sơ thẩm đối với Lương Văn T; Đến ngày 16/4/2013 Lương Văn T đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án. Tính đến ngày 12/4/2018 (Ngày bị cáo phạm tội) thì Lương Văn T đã được đương nhiên xóa án tích theo điểm c, khoản 2, điều 70 Bộ luật hình sự.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/4/2018 chuyển tạm giam ngày 18/4/2018 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hà Văn K, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý số 1 thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lương Văn C, sinh năm 1983. Trú tại: Bản Chiềng Y, xã Thành S, huyện Quan H, tỉnh Thanh H. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 12/4/2018, Lương Văn T đi mua thịt lợn và đi xe máy từ nhà chở theo thịt lợn để đi bán cho các hộ dân thuộc khu vực dọc sông Mã. Khi đến bản Piềng K, xã Mường L, huyện Mường Lát thì Lương Văn T đi thuyền qua sông đến bản Tà C, xã Trung L, huyện Mường Lát tiếp tục đi bán thịt lợn. Tại đây, Lương Văn T đã gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, hỏi và mua của người đàn ông này 02 (Hai) viên hồng phiến với số tiền là 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) với mục đích để sử dụng cho bản thân. Khi có ma túy, Lương Văn T bỏ 02 viên hồng phiến vào hộp kính rồi bỏ vào túi vải thổ cẩm đeo trên người và tiếp tục đi bán thịt lợn. Đến 17 giờ chiều cùng ngày, khi Lương Văn T đi đến bản Co C, xã Trung L, huyện Mường Lát, thì bị lực lượng Bộ đội Biên phòng Trung L – BĐBP Thanh Hóa bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thu giữ toàn bộ số ma túy nói trên.
Tại bản kết luận giám định số: 820/MT-PC54 ngày 15/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: 02 (Hai) viên nén hình trụ tròn màu đỏ, bên trên bề mặt các viên có ký hiệu “WY” của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng trọng lượng là 0,202g (Không phẩy hai trăm linh hai gam), loại: Methamphetamnie.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân, vì bị cáo đã nghiện chất ma túy được hơn 01 năm.
Cáo trạng số 30/CT-VKS-ML ngày 16/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố bị cáo Lương Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Bị cáo Lương Văn T theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Bị cáo Lương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điều 38; điểm s khoản 1 điều 51; Điểm c, khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Hình phạt áp dụng đối với bị cáo Lương Văn T từ 16 tháng 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, vì bị cáo thuộc diện hộ nghèo.
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy số ma tuý đã thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định, đây là vật chứng vụ án, là chất Nhà nước cấm lưu hành.
- Trả lại cho bị cáo Lương Văn T: 01 điện thoại di động màu đỏ đen; 01 giấy phép lái xe mang tên Lương Văn T; 01 hộp đựng kính và bên trong có 01 kính mắt; 01 sổ ghi chép; 01 cân bàn nhỏ; 01 con dao nhọn có bao đựng bằng gỗ; 01 túi vải thổ cẩm có dây đeo và 1.580.000đ (Một triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng) đã thu giữ của bị cáo.
- Trả lại cho anh Lương Văn C: 01 xe máy BKS 47P2-6064 màu đen xám, xe đã qua sử dụng;
Bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên không phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo không bị Cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng biện pháp ép cung, bức cung hay nhục hình và khai nhận biết rõ hành vi tàng trữ chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do bản thân bị nghiện không kìm chế được bản thân, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu là đúng, bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới.
Người bào chữa cho bị cáo đồng tình với quan điểm truy tố của VKS về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt. Nhưng cho rằng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, số lượng ma túy ít, nên đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo một mức án khởi điểm của khung hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều cho bị cáo yên tâm cải tạo, sớm được trở về với gia đình và xã hội, trở thành công dân có ích và vẫn có tính phòng ngừa chung. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với cáo bị; Trả lại tài sản đã thu giữ cho bị cáo vì đây là tài sản hợp pháp của bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị được nhận lại chiếc xe máy, không có ý kiến tranh luận gì.
Tại phiên tòa Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS, đồng tình với lời bào chữa, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo một mức án thấp nhất có thể, để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Lát, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa Bị cáo; Người bào chữa cho bị cáo và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa thực hiện đều hợp pháp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 12/4/2018, Lương Văn T đi bán thịt lợn, khi bị cáo đi đến bản Tà C, xã Trung L thì bị cáo mua của một người đàn ông không quen biết 02 viên ma túy tổng hợp, đến chiều cùng ngày thì bị cáo bị bắt quả tang khi đang có hành vi cất giấu số ma túy này trong hộp bỏ kính ở trong túi vải đeo trên người bị cáo là 0,202gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định; Kết luận giám định; Kết luận điều tra; các bản khai; bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điều 249 BLHS nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thì hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn tiếp tay cho những kẻ chuyên buôn bán các chất ma túy tồn tại và phát triển, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm....làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Mường Lát nói riêng và tỉnh Thanh Hóa nói chung. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là tội phạm nghiêm trọng, vì vậy hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS. Bị cáo đã phải đi chấp hành hình phạt tù 15 năm tù, đến ngày 16/4/2013 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án, như vậy, bị cáo đã được xóa án tích. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có nhân thân xấu, đã phải chấp hành hình phạt tù, nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân, bị cáo nghiện chất ma túy. Vì vậy, để phù hợp với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội đồng thời để bị cáo có điều kiện cai nghiện ma túy.
Về hình phạt chính và hình phạt bổ sung:
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; thấy rằng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về mức hình phạt cho bị cáo là phù hợp với hành vi phạm tội và trọng lượng chất ma túy thu giữ của bị cáo, đủ sức răn đe, phòng ngừa.
Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 điều 249 BLHS, nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, là lao động tự do, thu nhập không ổn định, lại là hộ nghèo, nên không có khả năng thi hành, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng trong vụ án:
- Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là vật chứng của vụ án, là chất Nhà nước cấm lưu hành tịch thu hiêu hủy.
- Các tài sản gồm: 01 điện thoại di động màu đỏ đen; 01 giấy phép lái xe mang tên Lương Văn T; 01 hộp đựng kính và bên trong có 01 kính mắt; 01 sổ ghi chép; 01 cân bàn nhỏ; 01 con dao nhọn có bao đựng bằng gỗ; 01 túi vải thổ cẩm có dây đeo đây không phải là công cụ, dụng cụ phạm tội, nên trả lại cho bị cáo; số tiền 1.580.000đ (Một triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng) đây không phải tiền do phạm tội mà có nên trả lại cho bị cáo.
- 01 xe máy BKS 47P2-6064 màu đen xám, xe này là tài sản hợp pháp của anh Lương Văn C, nên HĐXX trả lại cho anh C.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên HĐXX miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Các nhận định khác:
Đối với người đàn ông dân tộc Mông, là người bán ma túy cho bị cáo, thì Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Lát tiếp tục xác minh làm rõ, để xử lý ở vụ án khác.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự;
Điểm c, khoản 1 điều 249; Điều 38; điểm s, khoản 1, điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Hình phạt: Xử phạt Bị cáo Lương Văn T 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (12/4/2018).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng: Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ gói niêm phong bên trong bên trong có 0,166g (Không phẩy một trăm sáu sáu gam) chất bột màu đỏ còn lại sau khi trích mẫu giám định. Tất cả được được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật được dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Lê Minh Tiến, Dương Đình Hải và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.
- Trả lại cho bị cáo Lương Văn T: 01 điện thoại di động màu đỏ đen, vỏ máy bằng nhựa, loại máy bấm bàn phím, máy đã qua sử dụng, trên vỏ có dòng chữ FORME ngay dưới màn hình; 01 giấy phép lái xe số 170154004556 mang tên Lương Văn T; 01 hộp đựng kính và 01 kính mắt; 01 sổ ghi chép; 01 cân bàn nhỏ; 01 con dao nhọn có bao đựng bằng gỗ tổng chiều dài là 29cm; 01 túi vải thổ cẩm đường kính 24x22cm có dây đeo và 1.580.000đ (Một triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng).
- Trả lại 01 xe máy BKS 47P2-6064 màu đen xám, nhãn hiệu Wave S, xe đã qua sử dụng, số máy JC43E-1562589, số máy RLHJ4310BY027033 cho anh Lương Văn C, sinh năm 1983, trú tại bản Chiềng Y, xã Thành S, huyện Quan H, tỉnh Thanh Hóa.
Tất cả các vật chứng kể trên hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/7/2018 giữa Công an huyện Mường Lát và Chi cục THADS huyện Mường Lát.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ, khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên: Miễn tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Quyền Kháng cáo và Kháng nghị: Căn cứ: Điều 331, điều 333, điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Án xử công khai; có mặt bị cáo; người bào chữa cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA, TAND tỉnh Thanh Hóa; - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - VKS nhân dân huyện Mường Lát; - VKS nhân dân tỉnh Thanh Hóa - Cơ quan CSĐT- Công an H. Mường Lát; - Chi cục THADS huyện Mường Lát; - UBND xã Thành Sơn, H. Quan Hóa; - Trại Tạm giam-Công an tỉnh Thanh Hóa; - Bị cáo Lương Văn T; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Hồ sơ Thi hành án Hình sự; - Lưu Hồ sơ vụ án. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Dũng |