- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2018/HS-ST Ngày: 27/6/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Chiên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Trọng Quảng
2. Bà Đặng Thị Hƣơng Huyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thúy Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2018 tại Nhà đa năng Công ty cổ phần Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2018/TLST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
NGUYỄN TRỌNG H - sinh năm 1972 tại xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu Phong Vân A, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng T - sinh năm 1940 và bà Quách Thị Đ - sinh năm 1948; có vợ: Lê Thị D - sinh năm 1981 và 02 con (con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2015); tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không.
Hiện bị cáo tại ngoại tại xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 23/3/2018, Công an huyện Lâm Thao phối hợp với Công an xã Vĩnh Lại tuần tra tại Khu 14, xã Vĩnh Lại, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ phát hiện đối tượng có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành kiểm tra Nguyễn Trọng H - sinh năm 1972 ở khu Phong Vân A, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ, khi bị kiểm tra Nguyễn Trọng H đã tự nguyện lấy từ túi áo khoác bên trái 01 (một) gói giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu trắng xanh có in chữ và số màu đen, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng. H khai nhận chất bột cục màu trắng là Heroine, H tàng trữ với mục đích sử dụng cá nhân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với Nguyễn Trọng H; niêm phong 01 (một) gói giấy đã thu giữ của H và tạm giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell M289, màu trắng - đen, đã qua sử dụng, IMEI1: 812895122674928, IMEI2: 812891226574928.
Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Thao ra lệnh khám xét khẩn cấp số 09 đối với chỗ ở của H. Quá trình khám xét không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.
Ngày 23/3/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Thao ra quyết định trưng cầu giám định số 246, trưng cầu giám định chất ma túy đối với “Chất bột, cục màu trắng” thu giữ của Nguyễn Trọng H.
Ngày 26/3/2018, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ có kết luận giám định số 362/KLGĐ, kết luận:
“Chất bột, cục màu trắng chứa trong gói giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu trắng xanh, có in chữ và số màu đen gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng (trọng lượng) 0,309gam, loại Heroine, Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, số thứ tự 20, Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ”.
Ngày 29/3/2018 Công an huyện Lâm Thao đã có quyết định số 05/QĐ-CHS chuyển hồ sơ vụ vi phạm hành chính có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra, Nguyễn Trọng H khai nhận: Do là bạn bè quen biết ngoài xã hội với Nguyễn Hữu Bằng - sinh năm 1957, ở thôn Trung Hòa, xã Thái Hòa, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, khoảng 08 giờ ngày 23/3/2018 H sử dụng điện thoại cài sim số thuê bao 01634127827 gọi đến số thuê bao 0962570265 cho Bằng hỏi mua 01 gói ma túy với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Bằng đồng ý bán ma túy cho H và hẹn H đến đoạn đường khu vực gần cổng nhà Bằng. H thuê xe ôm chở đến chỗ hẹn, gặp Bằng và đưa cho Bằng 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) và nợ lại 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) hẹn lần sau mua sẽ trả nốt. Bằng đồng ý, cầm tiền của H và đưa lại cho H 01 (một) gói giấy có đặc điểm mặt ngoài màu trắng. H nhận biết đó là ma túy nên cầm gói giấy và đi về. Khi về đến khu 14, xã Vĩnh Lại, huyện Lâm Thao thì bị Công an huyện Lâm Thao và Công an xã Vĩnh Lại kiểm tra, H đã tự nguyện giao nộp 01 (một) gói giấy có đặc điểm như đã nêu trên.
Nguyễn Hữu Bằng khai nhận: Bằng có quen biết H ngoài xã hội. Ngày 23/3/2018, H có gọi điện cho Bằng hỏi có chỗ nào bán ma túy để H mua. Bằng trả lời H là không biết và bảo H đi sang khu vực đầu cầu Trung Hà, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xem có ai bán thì mua. Ngày 23/3/2018 Bằng không gặp H vì hôm đó Bằng đi khám bệnh ở thành phố Hà Nội, đến ngày 29/6/2018 Bằng về. Chiếc điện thoại di động cài sim thuê bao số 0962570265 Bằng đã đánh mất.
Về tài sản của bị cáo: Ngoài đồ dùng sinh hoạt thiết yếu bị cáo không có tài sản gì khác.
* Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKS-LT ngày 14 tháng 6 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao truy tố bị cáo Nguyễn Trọng H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt Nguyễn Trọng H từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng đối với bị cáo
* Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu, tiêu hủy một bì niêm phong số 362/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ, bên trong có 0,279 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 sim điện thoại có số thuê bao 01634127827.
- Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobell M289, màu trắng - đen, IMEI 1: 812895122674928, IMEI 2: 812891226574928 của bị cáo.
* Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015 bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong qúa trình điều tra, truy tố và xét xử: Đã thực hiện đúng thẩm quyền; đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Chứng cứ buộc tội:
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Trọng H khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 23/3/2018, tại Khu 14, xã Vĩnh Lại, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, Công an huyện Lâm Thao kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Trọng H, H đã tự giác giao nộp một gói ma túy loại Heroine. Mục đích H tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng. Công an huyện Lâm Thao đã thu giữ của H một gói ma túy có trọng lượng 0,309 gam là Heroine, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell M289.
Xét thấy lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; Biên bản vi phạm hành chính; Lời khai người làm chứng; Vật chứng vụ án và các tài liệu khác lập lưu trong hồ sơ vụ án. Tại bản kết luận giám định số 362/KLGĐ ngày 26/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ kết luận “Chất bột, cục màu trắng chứa trong gói giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu trắng xanh, có in chữ và số màu đen gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng (trọng lượng) 0,309gam, loại Heroine. Bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được sử dụng ma túy là nguyên nhân lây truyền căn bệnh HIV và những căn bê ̣nh khác nh ưng vẫn cố tình sử dụng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, bị cáo đã nhận tội và không tranh luận và bào chữa cho hành vi phạm tội của mình . Vì vậy, có đủ cơ sở kết luâ ̣n bị cáo Nguyễn Trọng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Tội phạm và hình phạt đối với bị cáo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Nội dung điều luật quy định như sau:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) .............................;
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amthamphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
Xét thấy tính chất vụ án thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn và nó còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, đưa bị cáo ra xét xử và có hình phạt mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nhân thân của bị cáo là chưa bị xét xử trước pháp luật. Bị cáo không phải chi ̣u tinh tiết tăng nă ̣ng nào . Tại Cơ quan
̀
cảnh sát điều tra và tại phiên toà hôm nay , bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đó là "Bố đẻ bị cáo là thương binh, được tặng thưởng Huân chương". Xét thấy đại diện Viện kiểm sát căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ và các quy định của pháp luật, đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù là phù hợp. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Đối với người tên là Bằng. Bị cáo khai là đã mua ma túy của Bằng, nhưng Bằng không thừa nhận là bán ma túy cho bị cáo và không ai biết việc mua bán ma túy giữa bị cáo và Bằng. Ngoài lời khai, bị cáo không đưa ra được chứng cứ chứng minh việc Bằng bán ma túy cho bị cáo . Vì vậy, không đặt ra xem xét xử lý đối với Bằng trong vụ án này là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung : Theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung . Xét thấy bị cáo không có tài sản gi và là người lao đô ̣ng tự do . Vì vậy, miễn áp du ̣ng hinh pha ̣t
̀
̀ bổ sung đối vớ i bi ̣ cáo.
Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
- Xét thấy 0,279 gam chất bột, cục màu trắng được niêm phong trong phong bì số 362/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ, là mẫu vật còn lại sau giám định không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobell M289 của bị cáo. Xét thấy bị cáo đã sử dụng trao đổi mua trái phép chất ma túy nên tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp.
Đối với chiếc sim điện thoại có số thuê bao 01634127827 đang lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobell M289. Xét thấy không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng H 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng đối với bị cáo.
* Xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu, tiêu hủy một bì niêm phong số 362/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ, bên trong có 0,279 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 sim điện thoại có số thuê bao 01634127827.
- Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobell M289, màu trắng - đen, IMEI 1: 812895122674928, IMEI 2: 812891226574928 của bị cáo.
(Toàn bộ vật chứng trên hiện đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/6/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Thao).
* Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Trọng H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND huyện Lâm Thao; - Chi cục THADS huyện Lâm Thao; - Công an huyện Lâm Thao; - Sở tư pháp tỉnh Phú Thọ; - Bị cáo, - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Khắc Chiên |