- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng AC yêu cầu ông Võ Quang H trả số tiền đã vay"
- Tòa quyết gì? 266, 273, 277 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 121 Bộ luật Dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2018/DS-ST Ngày: 22/5/2018 V/v: “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Hữu Thái
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Cao Quốc Hưng
Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phượng – Thư ký Tòa án nhân
dân Quận 2.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 tham gia phiên tòa: Ông
Phạm Văn Khải – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 5 năm 2018, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân
Quận 2, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 260/2017/TLST-DS ngày
30/10/2017 về việc “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 95/2018/QĐXXST ngày 02 tháng 5 năm 2018 và
Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2018/QĐST-DS ngày 15/5/2018, giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần AC.
Địa chỉ: Phường A, Quận B, Tp. Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Huỳnh Trúc M, sinh năm
1993 (Có mặt).
Địa chỉ: Phường C, Quận D, Tp. Hồ Chí Minh.
Theo Giấy ủy quyền số 297/UQ-QLN.17 ngày 02/10/2017.
- Bị đơn: Ông Võ Quang H, sinh năm 1984 (Vắng mặt).
Địa chỉ ghi trên hợp đồng khi xác lập giao dịch: phường Đ, Quận H,
Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngân hàng TMCP AC và ông Võ Quang H ký hợp đồng tín dụng số
CNK.CN.328.060215 ngày 06/02/2015 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung số
CNK.CN.328.060215/SĐBS – 01 ngày 29/01/2016. Theo hợp đồng đã ký,
Ngân hàng TMCP AC cấp tín dụng cho ông Võ Quang H vay trả góp với số tiền 250.000.000 đồng, thời hạn vay là 48 tháng, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất trong hạn 10%/1 năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Ngân hàng TMCP AC khởi kiện cho rằng trong quá trình vay vốn, ông
H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Ngày 31/5/2017, Ngân hàng TMCP AC ra thông báo thu hồi nợ và ngày 30/6/2017 thì chuyển toàn bộ nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 15/5/2018 thì ông H còn nợ 203.126.000 vốn gốc, lãi trong hạn là 24.591.200 đồng, lãi quá hạn là 26.998.831 đồng, lãi phạt chậm trả 2.200.000 đồng, tổng cộng là 256.916.031 đồng. Ngân hàng TMCP AC yêu cầu ông H thanh toán ngay số tiền còn thiếu.
Phía bị đơn là ông Võ Quang H vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án
giải quyết vụ án.
* Tại phiên tòa hôm nay, Ngân hàng TMCP AC yêu cầu ông H có
nghĩa vụ trả tiền còn thiếu tính đến hôm nay là 257.508.482 đồng và yêu cầu tính lãi chậm trả theo thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thi hành án xong.
+ Bị đơn vẫn vắng mặt không lý do.
+ Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí
Minh có ý kiến: Tòa án có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử, cần rút kinh nghiệm. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử chấp hành đúng pháp luật tố tụng, thủ tục khai mạc phiên tòa, tranh tụng đúng pháp luật. Các đương sự tham gia tố tụng đúng thành phần và chấp hành đúng pháp luật.
Về nội dung: Các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đã đủ cơ sở khẳng
định ông H có vay của Ngân hàng TMCP AC như nội dung khởi kiện. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP AC.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra
tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền đã vay, nên đây là tranh
chấp về hợp đồng vay tài sản, là loại tranh chấp được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bị đơn có địa chỉ cư trú ghi trên hợp đồng khi xác lập giao dịch vay tài
sản tại Quận 2 nên theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân Quận 2 có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nêu trên.
Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Tòa án
thực hiện thủ tục tống đạt bị đơn theo địa chỉ trong hợp đồng là đúng quy định
tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do thực tế bị đơn thay đổi địa
chỉ và không còn cư trú tại địa chỉ trên, nên Tòa án đã thực hiện thủ tục tống
đạt bằng hình thức thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và đã đăng
thông báo về nội dung vụ án, thông báo triệu tập bị đơn trong ba số liên tiếp
trên Báo Lao động, trang Thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí
Minh và phát thanh trong ba ngày liên tiếp trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Do
đó, Tòa án giải quyết vắng mặt của bị đơn là đúng quy định tại Điều 180, 227
2. Về các yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như
sau:
Ngân hàng TMCP AC đã tiến hành thủ tục đăng thông báo về việc
khởi kiện của Ngân hàng TMCP AC và việc triệu tập của Tòa án đến tham dự
các phiên họp, phiên tòa nhưng ông Võ Quang H vẫn không có văn bản phản
đối, nên theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu
khởi kiện không thuộc trường hợp phải chứng minh. Ông Võ Quang H phải
chịu tránh nhiệm về yêu cầu khởi kiện và những tài liệu chứng cứ mà Ngân
hàng TMCP AC đưa ra.
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số CNK.CN.328.060215 ngày
06/02/2015 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số CNK.CN.328.060215/SĐBS –
01 ngày 29/01/2016 và giấy tờ về việc giải ngân thì cho thấy ông Võ Quang H
đã vay trả góp của Ngân hàng TMCP AC với số tiền 250.000.000 đồng, thời
hạn vay là 48 tháng, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất trong hạn 10%/1 năm,
lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Do ông H đã vi phạm nghĩa vụ
trả nợ, nên việc Ngân hàng TMCP AC chuyển toàn bộ nợ vay còn thiếu sang
nợ quá hạn như trên là đúng pháp luật.
Trong quá trình vay nợ, ông Hải đã trả được 46.874.000 đồng vốn.
Tính đến hôm nay, số tiền nợ vốn còn thiếu là 203.126.000 vốn gốc và nợ lãi
trong hạn là 24.591.200 đồng, lãi quá hạn là 27.591.282 đồng, tiền phạt là
2.200.000 đồng.
Từ những phân tích nêu trên cho thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng
TMCP AC là có cơ sở, nên chấp nhận.
Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên bị đơn là ông H phải chịu án
phí tính trên yêu cầu khởi kiện được chấp nhận. Án phí mà ông H phải chịu là
12.875.400 đồng.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 121, 122, 471, 474 Bộ luật Dân sự 2005;
Căn cứ Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng;
Căn cứ khoản khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, 180,
266, 273, 277 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về Án phí, lệ phí Tòa án,
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ
phần AC về việc yêu cầu ông Võ Quang H có nghĩa vụ trả nợ đã vay.
Buộc ông Võ Quang H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ
phần AC số tiền 257.508.482 đồng (Hai trăm năm mươi bảy triệu, năm trăm lẻ tám ngàn, bốn trăm tám mươi hai đồng), (gồm 203.126.000 vốn gốc, lãi trong hạn 24.591.200 đồng, lãi quá hạn 27.591.282 đồng, tiền phạt 2.200.000 đồng).
Các bên thi hành tại cơ quan có thẩm quyền về thi hành án dân sự.
Trường hợp ông H chậm trả tiền thì còn phải trả lãi đối với số tiền
chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thi hành án xong. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
2/ Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm ông Võ Quang H phải chịu là
12.875.400 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP AC số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ
thẩm đã nộp là 5.717.552 đồng mà Ngân hàng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AE/2014/0008568 ngày 30/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 2.
Ngân hàng TMCP AC được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án.
Ông Võ Quang H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: -TAND TP.HCM; -VKSND Q2; - Chi Cục THADS Q2; - Các đương sự; - Lưu (P/10). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( ĐÃ KÝ) Quách Hữu Thái |