vanban.org

Bản án 30/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

kiện của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê V.

làm đại diện) phải sản phẩm giao nhận khoán 2016 - 2017 3.005kg cà phê quả tươi Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản — án dân sự — "Công ty Việt Đ và Nguyễn Mạnh T"
  • Tòa quyết gì? kiện của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê V.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Dân sự; Điều 107 Bộ luật Dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ KUIN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2018/DS-ST
Ngày: 10/10/2018
“V/v Tranh chấp HĐ
”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Văn Công Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần La và bà Phan Thị Thiện

- Thư ký phiên toà

- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin tham gia phiên tòa: Bà Hà Thanh Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 10/10/2018, tại phòng xử án B, trụ s

mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 43/2018/TLST-DS ngày 11 tháng 5 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng

” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2018/QĐXXST-DS ngày 12/9/2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (TNHH-MTV)

phê V

.

Người đại diện theo p

, sinh năm 1965 -

;

Quang D-

của Công ty,

.

- Bị đơn: Ông N

, sinh năm 1972, địa chỉ: Thôn 13, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Lắk,

.

-

, sinh năm 1975, địa chỉ: Thôn 13, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Lắk,

.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*

khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, đ

ông ty

-

trình bày như sau:

Năm 1997,

(do ông T

) ký hợp đồng nh

vớ

(nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê V) sử dụng vườn cà phê

0,57 ha. Theo quyết định số 391/QĐ-HĐTV ngày 19/7/2011 về việc phê duyệt phương án giao nhận khoán sản xuất cà phê vối kinh doanh của Tổng công ty cà phê Việt Nam đối với công ty TNHH-MTV cà phê V thì năm 2011

Công ty TNHH-MTV cà phê V công ty V)

Nguyễn Mạnh T ký tiếp hợp đồng giao nhận khoán

tổng

1,1628 ha, thời hạn hợp đồng đến

12 năm 2015.

2.850kg cà phê quả tươi/ha/năm. T

-

13/9/2011 của công ty TNHH-MTV cà phê V thì Công ty

2.680kg/ha/năm

,

ông T. Như vậy, t

năm 2011

2015 ông T

/

1,14 ha (diện tích thực tế sử dụng của ông Toàn) :

2.589kg/1,14ha,

321kg;

2.589kg/1,14ha + 321kg = 2.910kg,

thừa 09kg;

p 2.589kg/1,14ha -

192kg

369kg

898kg

y.

Khi hết chu kỳ giao khoán 2011-2015, Tổng công ty

có trương về kế hoạch cổ phần hóa các công ty Cà phê, trong đó có công ty V, tuy nhiên đến hết năm 2015 thì chưa thể tiến hành cổ phần hóa được nên công ty tiến hành phổ biến với cán bộ công nhân viên, người lao động về việc áp dụng

–

–

-

11/7/2016 của Tổng Công ty Cà phê Việt Nam. Sau khi triển khai thì Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê V

ký hợp đồng giao nhận khoán đối với đất sản xuất cà phê nói trên với thời hạn giao nhận khoán kể từ ngày 01/01/2016 đến hết ngày 31/12/2017, tài sản trên đất giao nhận khoán là vườn cây

năm 2016 là 1.547

. Tuy nhiên ông T

công ty thu

ông. Do đó 2017 ông T

công

.

Nay công ty V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc hộ gia đình ông

T

nộp sản phẩm 2015 898

; g

năm 2016 – tươi

gì khác.

Công ty rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu hộ ông T trả lại diện tích đất 1,1628 ha đã giao nhận khoán năm 2011.

* Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, b trình bày:

Năm 1997, ông

T (do ông T

) ký hợp đồng về việc giao nhận khoán vườn cây với

(nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê V)

0,57 ha.

2011 ông T

ông ty V

ông T

1,14 ha. Gia đình ông quản lý, canh tác ổn định vườn cây và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Công ty không

. C 1.200kg/ha/năm

/ha

1997 công ty thông báo cho ông và ông p

3.800kg

2004 - 2005

, mất mùa nên c

2.400kg

/ha/năm

2014 công

.

T

n

toàn bộ

cà phê

2016 – 2017.

hộ ông Nguyễn Mạnh T

898 kg;

2016 – 2017 là 3005 kg

.

ông T không

trong vụ án

.

*

, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

trình bày:

Bà N

M nh T

ông T

.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin phát biểu:

Thẩm quyền thụ lý vụ án: Đây là vụ án

” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vấn đề thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu: Thực hiện đúng theo quy định tại Điều 97, 98, 100, 101, điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự và cho Viện kiểm sát đúng theo quy định tại Điều 170 đến Điều 175, Điều 178 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (viết là HĐXX), Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn

đã thực hiện đúng các quy định Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm, đường lối xử lý đối với vụ án:

Căn cứ hợp đồng giao nhận khoán sản xuất cà phê được ký kết vào ngày 20/9/2011 giữa bên nhận khoán là hộ ông Nguyễn Mạnh T và bên giao khoán là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê V thể hiện: Thời gian giao nhận khoán từ

01/01/2011 đến

31/12/2015 với tổng diện tích 1,1628 ha, mức thu phần cứng cho cà phê kinh doanh là 2.850kg/ha, hình thức giao nhận khoán là công ty và người nhận khoán cùng đầu tư, bên nhận khoán có trách nhiệm nộp đúng, đủ sản lượng, chất lượng và được xem xét miễn, giảm một phần hay toàn bộ sản lượng phải nộp theo hợp đồng khi có rủi ro xảy ra thiệt hại theo quy định. Ông T xác định có ký hợp đồng giao nhận khoán với công ty giai đoạn 2011-2015.

Năm 2016-2017 tuy hộ ông T không ký lại hợp đồng với công ty, nhưng công ty vẫn giao đất và vườn cây cho hộ ông T quản lý, chăm sóc, hộ ông T vẫn tiếp tục sử dụng và thu sản phẩm trên vườn cây giao khoán. Do đó việc hộ ông Nguyễn Mạnh T không nộp đầy đủ số sản lượng là vi phạm hợp đồng giao nhận khoán đã ký kết với công ty nên công ty khởi kiện yêu cầu hộ ông T phải nộp tổng số sản lượng cà phê quả tươi còn thiếu từ năm 2011 đến 2017 là 3.903 kg/1,14ha là có căn cứ nên áp dụng Điều 305, 501, 506 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc hộ ông Nguyễn Mạnh T (do ông T làm đại diện) có trách nhiệm trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê V số sản lượng cà phê quả tươi còn thiếu từ năm 2011 đến 2017 là 3.903 kg.

Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu ông Nguyễn Mạnh T trả lại diện tích 1,1628ha đất đã nhận khoán năm 2011.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Theo hợp đồng giao, nhận khoán sản xuất cà phê ngày 20/9/2011

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê V và ông Nguyễn Mạnh T

–

1,1628 ha. Xét quan hệ pháp luật dân sự giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, phù

388, 389, 501

2005, do đó quyền và nghĩa vụ của các bên được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên

bị đơn khô đúng theo thoả thuận đã cam kết

là vi phạm

2015.

Bị đơn cư trú tại thôn 13, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Lắk nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, do đó Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.

Về nội dung vụ án:

Năm 1997

hê V (nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê V)

0,57 ha. Sau khi nhận khoán vườn cây, hộ ông T sử dụng, canh tác và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người nhận khoán.

Năm 2011, Tổng công ty cà phê Việt Nam có phê duyệt phương án giao nhận khoán giai đoạn 2011-2015 áp dụng đối với các hộ giao nhận khoán trên địa bàn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê V chờ cổ phần hóa.

-

1,1628 ha, ph

n

2.850kg

31/12/2015. Hình thức giao nhận khoán là công ty và người nhận khoán cùng đầu tư, bên nhận khoán có trách nhiệm nộp đúng, đủ sản lượng khoán về số lượng, chất lượng, thời gian. X

giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, phù

388, 389, 401, 402, 502, 503, 504

2005, do đó quyền và nghĩa vụ của các bên được pháp luật bảo vệ

:

Đ

20/9/2011

-

19/7/2011

. Q

c

2

1,14 ha (diện tích thực tế sử dụng của ông Toàn) :

321kg; thừa 09kg;

Năm 201

-

192kg

369kg

898kg

. N

(nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê V

phải

,

. Theo nội dung

ng

nên thông báo này không còn

áp dụng

, th

”. Do đó hộ ông T

2005.

không ký hợp đồng thuê khoán giai 2016 – 2017, Hội đồng xét xử thấy rằng: Công ty TNHH MTV cà phê V trực thuộc Tổng công ty cà phê Việt Nam và được Nhà nước giao quyền sử dụng đất nhằm mục đích sản xuất cà phê. Ngày 20/9/2011 ông T và công ty ký hợ

2011-20

02 năm (2016-2017

ông T thu

quá

, nhưng ông

và phía công ty đều

2016 cho

, ông T

, nên côn

khoán

2016-2017 tổng cộng

các

401,

2005

,

.

15/8/2018 công ty V tài sản,

.

Về án phí:

Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 47, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết là: x giá cà phê quả tươi tại thời điểm xét xử là 7.890kg x 5% = 1.539.500 đồng. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

2015;

, số tiền này nguyên đơn đã nộp tạm ứng và đã chi ngày 16/8/2018 nên bị đơn nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147, 157, 158, 203, 220, 235, 266, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 106, 107, 388; 389; 401; 402; 501; 502; 506 Bộ luật dân sự năm 2005;

Áp dụng khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 47 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Tuyên xử:

1.

kiện của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê V.

làm đại diện) phải sản phẩm giao nhận khoán

-

2016 - 2017 3.005kg cà phê quả tươi

: là 3.903kg (ba ng

kilôgam) cà phê quả tươi cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê V.

Đ phê V

1.1628 ha.

2. Về án phí:

(do ông T đại diện) phải chịu 1.539.500 (một triệu năm trăm ba mươi chín nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê V được nhận lại 1.175.000 đồng

nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2017/0001406 ngày 09 tháng 5 năm 2018

) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2017/0001405 ngày 09 tháng 5 năm 2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

3.

: H

(do ông T đại diện)

cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê V

.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật THADS thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật THADS; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THADS./.

Cỡ chữ