vanban.org

Bản án 30/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Chí Linh, tỉnh Hải Dương Tuyên án 06/06/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Dƣơng Đình B và Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Dƣơng Đình B 30 (ba mƣơi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/01/2017 Xử phạt Nguyễn Văn D 25 (hai mƣơi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/01/2017 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Đình B cùng đồng bọn phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 19…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Dƣơng Đình B và Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 Về lùi hiệu lực thi hành của Bộ…; Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2017/HSST
Ngày: 06/6/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHÍ LINH - TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

* Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quyết.

* Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Nguyễn Văn Thành- Cán bộ hƣu trí xã Văn Đức- thị xã Chí Linh.

2- Bà Vũ Thị Minh Hằng- Cán bộ hƣu trí phƣờng Sao Đỏ- thị xã Chí Linh.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Đặng Thái Long - Cán bộ Toà án nhân dân thị xã Chí Linh - Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Nhƣ Sáng - Kiểm sát viên.

Ngày 06/6/2017, tại trụ sở Nhà văn hóa khu dân cƣ (KDC) Thái Học 1, phƣờng Sao Đỏ, thị xã Chí Linh, Hải Dƣơng. Xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2017/HSST ngày 09 tháng 5 năm 2017 đối với các bị cáo:

1. Dƣơng Đình B; sinh năm 1996; nơi ĐKHKTT: KDC Đ, phƣờng C, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; con ông: Dƣơng Đình H; con bà: Nguyễn Thị T; tiền án, tiền sự: Chƣa; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/01/2017 đến ngày 04/01/2017 chuyển tạm giam tại Trại giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dƣơng đến nay (Có mặt tại phiên toà).

2. Nguyễn Văn D; sinh năm 1990; nơi ĐKHKTT: KDC K, phƣờng C, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; con ông: Nguyễn Văn V; con bà: Vũ Thị L; vợ là Nguyễn Thị T; tiền án, tiền sự: Chƣa; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/01/2017 đến ngày 04/01/2017 chuyển tạm giam tại Trại giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dƣơng đến nay (Có mặt tại phiên toà).

NHẬN THẤY

Các bị cáo Dƣơng Đình B và Nguyễn Văn D bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:

Vào tối ngày 01/01/2017, Dƣơng Đình B (là đối tƣợng nghiện ma túy) đi đến khu vực phƣờng S - thị xã C mua của một ngƣời đàn ông đàn ông tên C (B không rõ nhân thân, lý lịch cụ thể) 01 gói ma túy đá đƣợc gói bằng túi nilon màu trắng, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng dạng cục với giá 1.500.000đ. Trên đƣờng về, B chia túi ma túy đá mua đƣợc thành 02 túi nilon có kích thƣớc lần lƣợt là 5x5cm và 4x3,5cm cất giấu tại túi quần phía trƣớc bên phải đang mặc. Sau đó B đi vào nhà anh Nguyễn Trọng P, sinh năm 1982, trú tại ngõ 11, đƣờng T, KDC N, phƣờng S, thị xã C chơi. Khi đến nhà anh P, B giấu 02 túi ma túy trên tại gốc cây nhãn ở vƣờn nhà anh P rồi vào trong nhà chơi. Đến khoảng 12 giờ ngày 02/01/2017, B gọi điện cho Nguyễn văn D (là đối tƣợng nghiện ma túy) bảo Dũng lên đón B. Một lúc sau D đến nhà anh P, B đi ra gốc cây nhãn lấy 02 túi ma túy đá giấu từ ngày hôm trƣớc mang vào trong nhà và dơ lên trƣớc mặt D và nói: “Cái này mới lấy hôm qua ba triệu”. D biết là B cầm ma túy đá, D nói: “Mày đƣa đây cho anh”. B đồng ý và đƣa 02 túi túi ma túy đá cho D. D cất số ma túy trên vào túi da màu nâu đang đeo trên ngƣời với mục đích khi về nhà D và B sẽ cùng sử dụng ma túy. Sau đó cả hai ngồi chơi tại nhà P đến khoảng 14 giờ cùng ngày thị bị Công an thị xã Chí Linh phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm 01 túi da màu nâu kích thƣớc 20x25cm D đang đeo trên ngƣời, bên trong có 02 túi nilon màu trắng kích thƣớc lần lƣợt là 5,5cm và 4x3,5cm đều chứa chất tinh thể màu trắng dạng cục; 01 ví da màu đen bên trong có 01 Giấy phép lái xe và 01 Chứng minh thƣ nhân dân đều mang tên Nguyễn Văn D.

Tại bản kết luận giám định số 24/C54(TT2) ngày 15/02/2017, Viện khoa học hình sự- Tổng cục cảnh sát phòng chống tội phạm- Bộ Công an kết luận: Chất tinh thể màu trắng dạng cục trong hai túi nilon gửi đến giám định có tổng trọng lƣợng là 2,613gam, đều có Methamphetamine, hàm lƣợng 72,2%.

Tại bản Cáo trạng số 19/VKS- HS ngày 05/4/2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh - Hải Dƣơng đã truy tố Dƣơng Đình B và Nguyễn Văn D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

Các bị cáo Dƣơng Đình B và Nguyễn Văn D thành khẩn khai nhận hành vi của mình nhƣ đã khai tại Cơ quan điều tra và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính nguy hiểm của hành vi; xem xét, cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Dƣơng Đình B và Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1và khoản 2 Điều 46, Điều 20, Điều 53, điểm a, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc Hội; điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 76, Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí ngày 25/11/2015 của Quốc Hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội.

Xử phạt Dƣơng Đình B từ 27 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/01/2017.

Xử phạt Nguyễn Văn D từ 24 đến 26 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/01/2017.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất về việc xử lý vật chứng và án phí của vụ án.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo,

XÉT THẤY

Lời khai nhận tội của Dƣơng Đình B và Nguyễn Văn D tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai, bản cung của các bị cáo trong quá trình điều tra vụ án, phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, vật chứng của vụ án đã thu giữ đƣợc, lời khai của ngƣời làm chứng, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 14 giờ ngày 02/01/2017, tại nhà anh Nguyễn Trọng P ở ngõ 11, đƣờng T, KDC N, phƣờng S, thị xã C, Công an thị xã Chí Linh phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn D và Dƣơng Đình B có hành vi cất giữ trái phép 2,623gam có Methamphetamine, hàm lƣợng 72,2% (bằng 1,89gam Methamphetamine) với mục đích để sử dụng. Hành vi nêu trên của Dƣơng Đình B và Nguyễn Văn D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự, bởi lẽ:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nƣớc về việc cất giữ chất ma tuý - Một khách thể mà Bộ luật hình sự đã quy định và bảo vệ. Với mục đích nhằm thoả mãn nhu cầu sử dụng trái phép chất ma tuý của bản thân, các bị cáo đã bất chấp pháp luật của Nhà nƣớc, lén lút cất giữ trái phép chất ma túy để sử dụng làm mất trật tự trị an trên địa bàn, gây dƣ luận xấu trong nhân dân. Nhà nƣớc ta đã có chế độ quản lý ngặt nghèo đối với ma tuý, nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng… trái phép chất ma túy. Nhà nƣớc đã tuyên truyền rộng rãi dƣới nhiều hình thức về hiểm hoạ của ma tuý và pháp luật của Nhà nƣớc đối với ma tuý. Bản thân các bị cáo là ngƣời nghiện ma tuý nên đã hiểu rõ tác hại của ma tuý đối với sức khoẻ, tính mạng của con ngƣời. Nhƣng do ham chơi, không chịu tu dƣỡng, rèn luyện bản thân, các bị cáo đã sa vào tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật của Nhà nƣớc. Các bị cáo đã nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhƣng vẫn thực hiện. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh đã truy tố các bị cáo Dƣơng Đình B và Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Vụ án có nhiều ngƣời tham gia, tuy chỉ là đồng phạm giản đơn, song có sự tiếp nhận ý chí của nhau nên đã làm tăng thêm sự quyết tâm cùng cố ý phạm tội của các bị cáo trong vụ án. Do vậy, với hành vi của mình các bị cáo phải chịu một hình phạt nghiêm khắc, tƣơng xứng với hành vi mà các bị cáo đó thực hiện. Để hình phạt đó không chỉ là sự trừng trị của pháp luật đối với ngƣời phạm tội mà còn là bài học để dăn đe, giáo dục chung trong cộng đồng.

Xét về vị trí, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, thấy rằng:

Đối với Dƣơng Đình B: Bị cáo là ngƣời giữ vai trò thứ nhất trong vụ án. Bị cáo đã trực tiếp đi mua ma túy về cất giấu, khi D đề xuất đƣợc giữ số ma túy thì B đồng ý và đƣa ma túy cho D. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; ông nội của bị cáo có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ đƣợc tặng thƣởng Huân chƣơng kháng chiến nên bị cáo đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 30/3/2015 bị Công an phƣờng S- thị xã C xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, hình thức: Phạt tiền (Bị cáo đã nộp xong ngày 26/5/2015).

Đối với Nguyễn Văn D: Bị cáo là ngƣời giữ vai trò thứ hai trong vụ án. Khi biết B có ma túy D đã chủ động đề xuất đƣợc cất giữ ma túy với mục đích để sử dụng. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; ông nội của bị cáo có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ đƣợc tặng thƣởng Huy chƣơng kháng chiến nên bị cáo đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Dƣơng Đình B và Nguyễn Văn D bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành với khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm. Tuy nhiên, ngày 09/12/2015 Bộ luật hình sự năm 2015 đã đƣợc công bố. Tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm. Nhƣ vậy chính sách hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” có sự thay đổi, hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 thấp hơn so với hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 hiện hành. Mặc dù Bộ luật hình sự 2015 chƣa có hiệu lực thi hành nhƣng theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội thì những quy định có lợi của Bộ luật hình sự 2015 đƣợc áp dụng đối với những hành vi đã thực hiện trƣớc khi Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực thi hành. Do vậy cần áp dụng a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Xét cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo đƣợc cải tạo dƣới sự quản lý nghiêm của Nhà nƣớc giúp các bị cáo cải tạo trở thành ngƣời công dân tốt, có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã Chí Linh đã thu giữ của các bị cáo số Methamphetamine, sau khi giám định hoàn lại là 2,201gam có thành phần Methamphetamine, đây là vật thuộc loại Nhà nƣớc cấm lƣu hành nên cần tịch thu cho tiêu huỷ. Số vỏ bao gói mẫu hoàn lại sau giám định không có giá trị nên cần thu giữ cho tiêu hủy. Đối với 01 túi da màu nâu đã thu giữ của Nguyễn Văn D. Đây là tài sản của D, D đã dùng vào việc phạm tội, xét không có giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy. Đối với 01 ví da màu nâu, 01 chứng minh thƣ nhân dân và 01 Giấy phép lái xe đã thu giữ của D. Đây là tài sản của D không có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo D.

Đối với ngƣời đàn ông tên C đã bán ma túy cho bị cáo B (theo lời khai của bị cáo B) nay chƣa xác định đƣợc lý lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

Về án phí: Các bị cáo Dƣơng Đình B và Nguyễn Văn D bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Dƣơng Đình B và Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt Dƣơng Đình B 30 (ba mƣơi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/01/2017

Xử phạt Nguyễn Văn D 25 (hai mƣơi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/01/2017

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu cho tiêu huỷ 2,201gam có thành phần Methamphetamine hoàn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói đƣợc đựng trong phong bì niêm phong số 24/C54 (TT2) của Viện khoa học hình sự- Tổng cục cảnh sát-Bộ Công an. Tịch thu cho tiêu hủy 01 túi da nâu kích thƣớc 20x25cm. Trả lại cho Nguyễn Văn D 01 ví da màu đen và 01 Chứng minh thƣ nhân dân và 01 Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn D.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội. Các bị cáo Dƣơng Đình B và Nguyễn Văn D mỗi ngƣời phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Báo các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ