- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Đình T - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 299/2026/HS-ST Ngày 25 tháng 8 năm 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - HÀ NỘI
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Trường.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thi
Ông Đặng Sơn Chưởng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng, Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng Phương, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 275/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
282/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo: Đỗ Đình T, sinh năm 1995; Căn cước công dân số: 001095019040 cấp ngày 20/7/2021 tại C06- Bộ C; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn H, xã H, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện tại: thôn H, xã H, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: tự do; Con ông: Không có; Con bà: Đỗ Thị P; Vợ: Nguyễn Thị Kim M, đã ly hôn; Con: Có 01 con, sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Bản án số 46/2017/HSST ngày 18/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội xử phạt T 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đã nộp án phí ngày 26/3/2018. Bị cáo ra trại ngày 30/4/2018.
- Bị cáo đi cai nghiện tự nguyện từ ngày 22/4/2025 đến ngày 22/10/2025 về địa phương. Bị cáo đang là đối tượng quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số 1106/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân xã H, thành phố Hà Nội trong thời gian từ ngày 22/10/2025 đến ngày 22/10/2026.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/5/2026 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 01- Công an thành phố H. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ, ngày 22/05/2026, Tổ Công tác Công an xã H, thành phố Hà Nội mời Đỗ Đình T là người nằm trong diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại địa phương lên trụ sở để cam kết chấp hành nghiêm chỉnh theo quy định của pháp luật. Trong quá trình làm việc, Đỗ Đình T đã khai nhận bản thân có sử dụng ma tuý tổng hợp vào ngày 19/05/2026. Công an xã H đã tiến hành mời cán bộ y tế xã H, người chứng kiến tiến hành xét nghiệm nhanh bằng que test nhanh cho kết quả: Dương tính với chất ma túy Methamphetamine (MET).
Ngày 22/05/2026 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định trưng cầu giám định số: G3486/QĐ-CSMT, trưng cầu Trung tâm P1 giám định: Chất ma túy trong nước tiểu của Đỗ Đình T. Tại bản Kết luận giám định độc chất số 737/2026/KLGĐĐ-TTPY ngày 26/05/2026 của Trung tâm P1 có: “Mẫu nước tiểu của Đỗ Đình T giám định có tìm thấy các chất ma túy Methamphetamine và A.”
Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Đình T khai nhận:
Bản thân T bắt đầu sử dụng ma túy đá từ năm 2017. T đang nằm trong diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú vì trước đó T đi cai nghiện tự nguyện từ ngày 22/4/2025 đến ngày 22/10/2025 về địa phương. Sau khi cai nghiện về địa phương, T có đến trình diện tại cơ quan chức năng thì được cơ quan công an lập hồ sơ đưa vào diện quản lý sau cai nghiện từ ngày 22/10/2025 đến ngày 22/10/2026 theo Quyết định số 1106/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân xã H.
Sau khi đi cai nghiện về T vẫn thi thoảng sử dụng ma túy. Khoảng hơn 20 giờ ngày 19/05/2026 do thèm sử dụng ma túy nên T có đi đến khu vực trạm bơm đường Đ, xã H, thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T gặp một người đàn ông không quen biết, đoán người này bán ma túy nên hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá (Methamphetamine). Người đàn ông này đồng ý và bảo T đứng chờ, một lúc sau người đàn ông này quay lại đưa cho T 01 gói giấy bằng tờ lịch cũ, bên trong là tinh thể màu trắng. T biết là ma túy đá nên đưa lại 300.000 đồng tiền mặt cho người này. Sau khi mua được ma túy, Đỗ Đình T mang về nhà riêng tại thôn H, xã H, thành phố Hà Nội và sử dụng hết số ma túy nêu trên bằng hình thức hít trực tiếp vào cơ thể.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đỗ Đình T: Quá trình điều tra, T khai người này khoảng 25 đến 30 tuổi dáng người cao gầy khoảng 1,7m, mặc quần đùi màu đen, áo phông không cổ màu đen, tóc cắt ngắn không đội mũ, đeo khẩu trang. T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành rà soát, xác minh, truy tìm và áp dụng các biện pháp điều tra cần thiết nhưng đến nay không xác định được con người cụ thể nên không căn cứ xử lý.
Về vật chứng: Không có.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số: 159/CT-VKSKV9-HN ngày 22/7/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hà Nội đã truy tố đối với Đỗ Đình T về tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đỗ Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, hoàn cảnh các bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về hòa nhập xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của Đỗ Đình T về tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng các điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 xử phạt Đỗ Đình T từ 30 tháng đến 32 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Không có;
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Đình T nhận thấy:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Đỗ Đình T đang là đối tượng quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số 1106/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân xã H trong thời gian từ ngày 22/10/2025 đến ngày 22/10/2026. Ngày 19/5/2026, Đỗ Đình T đã có hành vi sử dụng trái phép ma túy loại Methamphetamine tại nhà riêng của T ở thôn H, xã H, thành phố Hà Nội.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định hành vi của Đỗ Đình T đã phạm tội: "Sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luậ Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hà Nội truy tố bị cáo Đỗ Đình T về tội danh trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Đỗ Đình T, Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ người bán ma túy cho T để xử lý theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét.
. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó cần có hình phạt nghiêm khắc tiếp tục cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đây là các tình tiết Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Đỗ Đình T: 30 (ba mươi) tháng tù về tội Sử dụng trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2026.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đỗ Đình T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân Tp Hà Nội; - Viện KSND khu vực 9 - Hà Nội; - Cơ quan điều tra Công an Tp Hà Nội; - Phòng THADS khu vực 9; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Mậu Trường |