vanban.org

Bản án 299/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng S:

Buộc ông Nguyễn Thái A phải thanh toán cho Ngân hàng S tổng số tiền tính đến ngày 05/6/2025 là 154.912.732 đồng (một trăm năm mươi bốn triệu chín trăm mười hai nghìn bảy trăm ba mươi hai đồng), gồm nợ gốc là 54.087.141 đồng, lãi quá hạn là 100.825.591 đồng, theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng S tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng S:
  • Căn cứ chính? Điều 10 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 12 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 299/2025/DS-ST
Ngày: 05 - 6 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.

2. Ông Phạm Văn Chính.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Ngọc Duyên – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1154/2024/TLST-DS ngày 10/12/2024, về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2025/QĐXXST-DS ngày 08/4/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 118/2025/QĐST-DS ngày 07/5/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng S; địa chỉ trụ sở: 266 – 268 Đường N, phường V, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty SBA; địa chỉ: 278 Đường N, phường V, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lã Ngọc M, sinh năm 1970; địa chỉ: Lầu 6 - Số 278 Đường N, phường V, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. (xin vắng mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Thái A, sinh năm 1985; địa chỉ: 62/1 ấp A (ấp C1 cũ), xã T, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/11/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án,nguyên đơn Ngân hàng S (Sacombank), có người đại diện hợp pháp là ông Lã Ngọc M trình bày:

Ngày 02/7/2019, ông A ký với Ngân hàng hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng), với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2,4%/tháng, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông A đã kích hoạt, thực hiện các giao dịch tổng số tiền là 451.505.579 đồng, đã thanh toán 415.062.000 đồng, thứ tự thanh toán theo Điều 20, chi tiết các giao dịch theo bảng tóm tắt sao kê đính kèm.

Ông A nhiều lần vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, Ngân hàng đã làm việc, nhắc nhở nhưng ông A không có thiện chí trả nợ nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ, chuyển toàn bộ dư nợ 54.087.141 đồng sang nợ quá hạn kể từ ngày 06/3/2021 theo Điều 23 nhưng đến nay ông A vẫn không thanh toán nợ cho Ngân hàng.

Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông A phải thanh toán ngay một lần tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 19/02/2025 là 149.979.952 đồng, gồm nợ gốc là 54.087.141 đồng và lãi quá hạn là 95.892.811 đồng; ông A phải tiếp tục thanh toán tiền lãi, phí theo hợp đồng từ ngày 20/02/2025 đến khi trả xong nợ.

Bị đơn là ông Nguyễn Thái A đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án nhưng không có ý kiến phản hồi.

Tại phiên tòa:

Phía nguyên đơn gửi bản tự khai kèm tóm tắt sao kê, với yêu cầu cụ thể như sau: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Thái A phải thanh toán ngay số tiền còn nợ tính đến ngày 05/6/2025 là 154.912.732 đồng, gồm nợ gốc là 54.087.141 đồng, lãi quá hạn là 100.825.591 đồng; yêu cầu bị đơn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng kể từ ngày 06/6/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ.

Phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn: Về thủ tục tố tụng: Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng, người tham gia tố tụng đã được bảo đảm thực hiện đúng và đầy đủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Tóm tắt sao kê do Ngân hàng phát hành, có căn cứ xác định ông A đã ký hợp đồng và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, đã thực hiện nhiều giao dịch, đã thanh toán nhiều lần nhưng vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong thời gian dài nên ngày 06/3/2021 Ngân hàng chuyển khoản nợ còn lại 54.087.141 đồng sang nợ quá hạn là đúng thỏa thuận giữa hai bên tại hợp đồng đã ký. Tính đến ngày 05/6/2025, ông A còn nợ tổng số tiền 154.912.732 đồng, gồm nợ gốc là 54.087.141 đồng, lãi quá hạn là 100.825.591 đồng nhưng không thanh toán là vi phạm nghĩa vụ trả nợ, vi phạm hợp đồng. Căn cứ Điều 466 Bộ luật dân sự 2015, Luật các tổ chức tín dụng, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Tổ chức tín dụng khởi kiện yêu cầu khách hàng là cá nhân thanh toán khoản vay có mục đích tiêu dùng cá nhân theo hợp đồng đã ký. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện Hóc Môn. Vì vậy, đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Sự vắng mặt của đương sự: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, trong đó có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa kèm Giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng, quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3.1] Đối với yêu cầu thanh toán nợ gốc, số tiền 54.087.141 đồng:

Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 02/7/2019, kèm bảng Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng S, xác định ông A ký kết và sử dụng thẻ tín dụng số 3466057100 từ ngày 02/7/2019 với hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng.

Theo trình bày của Ngân hàng kèm Tóm tắt sao kê, tính đến ngày 05/9/2020, ông A đã thực hiện nhiều giao dịch với tổng số tiền là 451.505.579 đồng nhưng chỉ thanh toán tổng số tiền 415.062.000 đồng và không tiếp tục thanh toán là vi phạm thỏa thuận tự nguyện tại hợp đồng đã ký.

Do ông A vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 06/3/2021 Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng của ông A, chuyển toàn bộ dư nợ còn lại tại thời điểm vi phạm với số tiền 54.087.141 đồng sang nợ gốc quá hạn là phù hợp với thỏa thuận giữa hai bên tại Hợp đồng đã ký, phù hợp quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự 2015, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông A phải thanh toán khoản tiền nợ gốc này là có căn cứ chấp nhận.

[3.2] Về yêu cầu thanh toán tiền lãi quá hạn tính đến ngày 05/6/2025, số tiền 100.825.591 đồng:

Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 02/7/2019, kèm bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng S, mức lãi suất được áp dụng theo công bố của Ngân hàng cho vay, cụ thể: lãi suất trong hạn là 2.4%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Thỏa thuận giữa hai bên là phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 7, 8, 10 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Như nhận định tại mục [3.1], ông A vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ khoản nợ đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 06/3/2021, và ông A phải chịu tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc 54.087.141 đồng tính từ ngày 06/3/2021.

Do đó, nguyên đơn yêu cầu ông A phải thanh toán tiền lãi quá hạn tính đến ngày 05/6/2025 với tổng số tiền 100.825.591 đồng, được tính chi tiết tại bảng tóm tắt sao kê ngày 05/6/2025 là phù hợp với mức lãi suất, cũng như các quy định viện dẫn nêu trên.

Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu ông A phải thanh toán khoản tiền lãi nêu trên là có căn cứ chấp nhận; ngoài ra, ông A còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi quá hạn phát sinh theo hợp đồng từ ngày 06/6/2025 đến khi trả xong nợ.

[4] Khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:”Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ”. Ông A được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án trong suốt quá trình giải quyết vụ án nhưng không có ý kiến phản hồi, không cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên phải tự chịu trách nhiệm và Hội đồng xét xử căn cứ vào những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

[5] Nội dung phát biểu tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu tiền án phí có giá ngạch tương ứng với khoản tiền phải trả cho nguyên đơn, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; khoản 1 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 147; Điều 266; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 280, 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng các Điều 7, 8, 10, khoản 1 Điều 12 và Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng S:

Buộc ông Nguyễn Thái A phải thanh toán cho Ngân hàng S tổng số tiền tính đến ngày 05/6/2025 là 154.912.732 đồng (một trăm năm mươi bốn triệu chín trăm mười hai nghìn bảy trăm ba mươi hai đồng), gồm nợ gốc là 54.087.141 đồng, lãi quá hạn là 100.825.591 đồng, theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 02/7/2019, bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng S, thẻ tín dụng số 3466057100 ngày 02/7/2019.

Kể từ ngày 06/6/2025 cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Thái A phải chịu số tiền 7.745.637 đồng, thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trả lại cho Ngân hàng S số tiền 3.429.842 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0047704 ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA

Cỡ chữ