vanban.org

Bản án 299/2020/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 05/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣ ng bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, th i gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân xã Quảng Tiến, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong th i gian thử thách. Trƣ ng hợp bị c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣ ng bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHÓ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 299/2020/HSST
Ngày 05-8-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Ngọc Công

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Từ Anh Tuấn;

2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Cao Tấn Ngoan, Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 263/2020/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 296/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L, sinh năm 1978, tại tỉnh H; thƣ ng tr : Ấp Q, xã Q, huyện Tr, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Hữu Th (đã chết) và bà Phạm Thị Ch, sinh năm 1940; bị cáo 09 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1962, nhỏ nhất sinh năm 1984; bị cáo có vợ tên là Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1979; bị cáo có 02 con ruột, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Yến Ph, sinh năm 1980 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp cho bị hại:

1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1957 và bà Trần Thị Đ, sinh năm 1958; cùng thƣ ng trú: Số 210 Th, phƣ ng Long B, thành phố B, tỉnh Đ.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình Ph, sinh năm 1983; thƣ ng trú: Số 210 Th, phƣ ng Long B, thành phố B, tỉnh Đ; vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1981; thƣ ng trú: Ấp Cây Da, xã H, thị xã D, tỉnh Tr; vắng mặt.

- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH dịch vụ vận tải D; có trụ sở tại: Số 33C Cƣ xá Ph, Lý Ch, Phƣ ng 10, Quận 6, Thành phố H.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồng Đ, sinh năm 1983; chức vụ: Nhân viên pháp chế của Công ty, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1981; thƣ ng trú: Ấp C, xã H, thị xã D, tỉnh Tr; vắng mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người chứng kiến: Ông Trần Văn T và ông Đỗ Hồng Th; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Văn L có cấp giấy phép lái xe hạng FC số 790106005392 đƣợc Sở giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/12/2018, L là tài xế lái xe container cho công ty TNHH dịch vụ vận tải D có trụ sở tại 33C Cƣ xá Phú Lâm D, đƣ ng L, Phƣ ng 10, Quận 6, Tp.H.

Khoảng 04 gi ngày 30/11/2019, Nguyễn Văn L điều khiển xe ôtô đầu kéo biển số 51C – 585.67, kéo theo r mooc biển số 51R – 204.94 đi từ huyện Ph Giáo, tỉnh Bình Dƣơng về cảng Bến Nghé, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh để lấy hàng. Đến khoảng 06 gi cùng ngày, L điều khiển xe ôtô đầu kéo biển số 51C – 585.67, kéo r mooc biển số 51R – 204.94 lƣu thông trên đƣ ng ĐT743A theo hƣớng Quốc lộ 1K về ngã ba Tân Vạn, khi đến đoạn giao lộ ngã ba Tân Vạn thuộc khu phố Ng, phƣ ng B, thành phố D, tỉnh B, L điều khiển xe ôtô đầu kéo biển số 51C – 585.67, kéo theo r mooc biển số 51R – 204.94 rẽ phải chuyển hƣớng ra đƣ ng Quốc lộ 1A để đi về Thành phố Hồ Chí Minh, do thiếu ch ý quan sát nên L đã để góc cản trƣớc bên phải xe ôtô đầu kéo biển số 51C – 585.67 đụng vào bên hông trái xe mô tô Honda Wave Alpha biển số 84K1 – 2677 do chị Nguyễn Yến Ph điều khiển lƣu thông cùng chiều phía trƣớc xe ôtô đầu kéo biển số 51C – 585.67, làm xe mô tô biển số 84K1 – 2677 và chị Ph ngã xuống đƣ ng bị hàng bánh sau bên phải xe ôtô đầu kéo và r mooc cán chèn lên ngƣ i, dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả: Chị Nguyễn Yến Ph chết tại hiện trƣ ng, xe môtô Honda Wave Alpha biển số 84K1 – 2677 bị hƣ hỏng.

- Tang vật tạm giữ: 01 (một) xe mô tô Honda Wave Alpha biển số 84K1 – 2677; 01 (một) xe ôtô đầu kéo mang biển số 51C – 585.67, kéo theo sơmi r mooc mang biển số 51R – 204.94 và 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 tên Nguyễn Văn L.

* Theo Bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 994/GĐPY ngày 05/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, kết luận nguyên nhân gây tử vong của chị Nguyễn Yến Ph là do đa chấn thƣơng.

* Căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trƣ ng vào l c 06 gi 30 phút ngày 304 tháng 11 năm 2019, tại đƣ ng DT 743A, khu phố Ng, phƣ ng B, thành phố D, tỉnh B, hiện trƣ ng thể hiện nhƣ sau:

1. Hiện trạng của đoạn đƣ ng nơi xảy ra tai nạn: Hiện trƣ ng tai nạn là đƣ ng DT743A theo hƣớng từ ngã ba suối Lồ Ô về Tân Vạn, nằm rẽ phải ra đƣ ng QL1A, mặt đƣ ng đƣợc trải nhựa, có đảo phận tuyến bằng bê tông.

2. Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phƣơng tiện, dấu vết: (1) xe ô tô đầu kéo biển số 51C-585.67 kéo theo r mooc biển số 51R-20494; (2) xe mô tô biển số 84K1-9677; (3) vết cày xe (2); (4) nạn nhân nằm p chết tại hiện trƣ ng; (5) t i xách nạn nhân; (6) áo mƣa + mắt kính + bao tay nạn nhân; (7a, 7d, 7c) đảo phận tuyến bê tông; (8) dãy phân cách bê tông giao với đƣ ng DT 743A; (9) trụ điện bê tông số 27.

3. Xác định điểm mốc và một số các mép đƣ ng nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn:

- Lấy đầu đảo phân tuyến theo hƣớng ra đƣ ng Quốc lộ 1A (7b) và (9) nằm trên lề đƣ ng theo hƣớng khu du lịch Thủy Châu về cầu Đồng Nai làm điểm gốc

- Lấy mép đƣ ng theo hƣớng từ khu du lịch Thủy Châu về cầu Đồng Nai làm chuẩn.

4. Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phƣơng tiện, tang vật, dấu vết:

- (1) sau khi tai nạn đầu xe đầu kéo hƣớng về đƣ ng Quốc lộ 1A; trục bánh xe trƣớc bên phải đầu kéo cách mép chuẩn kích thƣớc 30,50m; trục bánh sau xe bên phải đầu kéo cách mép chuẩn kích thƣớc 25,80m; trục bánh xe bên phải r mooc cách mép chuẩn kích thƣớc 16,60m; trục bánh xe trƣớc bên trái đầu kéo cách đầu (7b) kích thƣớc 5,90m.

- (2) sau tai nạn nằm ngã bên phải trên mặt đƣ ng và nằm dƣới gầm đầu kéo (1); bánh xe trƣớc hƣớng về đƣ ng QL1A; trục bánh xe trƣớc cách mép chuẩn kích thƣớc 27,50m; trục bánh sau cách mép chuẩn kích thƣớc 96,60m. Trục bánh xe trƣớc cách trục bánh xe trƣớc bên trái đầu kéo (1) kích thƣớc 2,60m.

- (3) sau tai nạn để lại đầu vết cày nằm ngoài mép chuẩn hƣớng về đƣ ng DT743A , cách mép chuẩn kích thƣớc 1,40m, cách (9) kích thƣớc 22,70m, cách gác chân trƣớc bên phải (2) kích thức 30,0m.

- (4) nạn nhân chết nằm p trên mặt đƣ ng; đầu hƣớng về (7a) và cách mép chuẩn kích thƣớc 2,50m, cách trục bánh bên phải r mooc (1) kích thƣớc 15,0m; chân phải cách mép chuẩn 2,50m.

- (5) sau tai nạn nằm bên phải (4), cách mép chuẩn kích thƣớc 5,20m, cách đầu (4) kích thƣớc 3,0m, cách (6) kích thƣớc 7,40m.

- (6) sau tai nạn nằm trên đƣ ng phía sau đuôi r mooc (1) cách mép chuẩn kích thƣớc 12,0m.

* Theo bản Kết luận giám định số 05/KLGĐ-PC09 ngày 17/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận, tại th i điểm giám định xe ôtô đầu kéo mang biển số 51C – 585.67, kéo theo sơmi r mooc mang biển số 51R – 204.94 xác định:

- Hệ thống lái: Có chi tiết đầy đủ, lắp đặt đ ng vị trí, không phát hiện dấu vết hƣ hỏng do sự cố kỹ thuật.

- Hệ thống phanh: Có chi tiết đầy đủ, lắp đặt đ ng vị trí, không phát hiện dấu vết hƣ hỏng do sự cố kỹ thuật.

* Theo bản Kết luận giám định số: 208/GĐCH-PC09 ngày 03/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, kết luận:

1. Các dấu vết trƣợt xƣớc sơn màu trắng và bám dính chất màu vàng (dạng sơn) ở mặt trƣớc bên phải cản trƣớc xe ôtô đầu kéo biển số 51C – 585.67, có chiều từ trƣớc về sau phù hợp với dấy vết trƣợt xƣớc mất sơn màu trắng lộ sơn bên trong màu vàng ở mặt ngoài phuộc sau bên trái xe môtô biển số 84K1 – 2677, có chiều từ sau về trƣớc;

- Các dấu vết trƣợt sạch bụi, dầu nhớt ở gầm xe ôtô, có chiều trƣớc về sau phù hợp với các dấu vết cong, gãy gác chân trƣớc và các vết trƣợt xƣớc bám dầu nhớt ở phần bên trái xe môtô, có chiều từ sau về trƣớc (khi xe môtô đã đổ ngã trên mặt đƣ ng).

2. Cơ chế hình thành dấu vết giữa hai xe là: Xe ôtô đầu kéo va chạm với xe môtô lƣu thông cùng chiều phía trƣớc bên phải (nhƣ mục 1) làm xe môtô đổ ngã, trƣợt trên mặt đƣ ng tạo ra các dấu vết trên hai phƣơng tiện.

3. Căn cứ vào vị trí, chiều hƣớng các dấu vết ở hiện trƣ ng vụ tai nạn giao thông thì vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ôtô đầu kéo và xe môtô chiếu xuống mặt đƣ ng là khu vực phía trƣớc đầu vết cày (ký hiệu số 3 trên sơ đồ hiện trƣ ng).

Quá trình điều tra bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định pháp y tử thi số: 994/GĐPY ngày 05/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng; Biên bản khám nghiệm hiện trƣ ng vụ tai nạn giao thông; các Kết luận giám định số 05/KLGĐ-PC09 ngày 17/01/2020 và số 208/GĐCH-PC09 ngày 03/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng; biên bản khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông.

Quá trình điều tra xác minh xác định: Nguyễn Văn L điều khiển xe ôtô đầu kéo biển số 51C – 585.67, kéo theo r mooc biển số 51R – 204.94 lƣu thông trên đƣ ng ĐT743A chuyển hƣớng rẽ phải do thiếu ch ý quan sát phía trƣớc và không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền phía trƣớc nên đã để góc cản trƣớc bên phải xe ôtô đầu kéo đụng vào phần hông trái xe môtô Honda Wave Alpha biển số 84K1 – 2677 do chị Nguyễn Yến Ph điều khiển dẫn đến tai nạn giao thông, hậu quả chị Ph chết tại hiện trƣ ng, hành vi của Nguyễn Văn L vi phạm vào khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đƣ ng bộ, lỗi chính gây tai nạn giao thông.

Cáo trạng số: 302/CT-VKS ngày 23 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣ ng bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, th i gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm.

* Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) xe môtô Honda Wave Alpha biển số 84K1 – 2677 là xe của anh Nguyễn Văn Chắn là chồng chị Ph làm chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Dĩ An ra quyết định trả lại chiếc xe trên cho anh Nguyễn Văn Chắn.

- Đối với 01 (một) xe ôtô đầu kéo biển số 51C – 585.67 và r mooc biển số 51R – 204.94 Nguyễn Văn L điều khiển là tài sản của Công ty TNHH dịch vụ vận tải D nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An trả lại xe ôtô đầu kéo, r mooc nói trên cho công ty TNHH dịch vụ vận tải Diệp Tiến.

- Đối với giấy phép lái xe hạng FC tên Nguyễn Văn L chuyển theo hồ sơ, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn L.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo cùng với bị đơn dân sự thỏa thuận bồi thƣ ng cho đại diện hợp pháp của bị hại với tổng số tiền 130.000.000 đồng, ngƣ i đại diện hợp pháp cho bị hại không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án, do bị cáo và ngƣ i đại diện hợp pháp cho bị đơn dân sự không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng đồng th i bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội lao động chăm sóc các con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo; đại diện hợp pháp cho bị hại; bị đơn dân sự không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣ i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣ i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ l i khai của bị cáo; ngƣ i đại diện hợp pháp cho bị hại; bị đơn dân sự; biên bản khám nghiệm hiện trƣ ng và chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 04 gi ngày 30/11/2019 tại đoạn giao lộ ngã ba Tân Vạn thuộc khu phố Ng, phƣ ng B, thành phố D, tỉnh B, Nguyễn Văn L điều khiển xe ôtô đầu kéo biển số 51C – 585.67, kéo theo r mooc biển số 51R – 204.94 rẽ phải chuyển hƣớng ra đƣ ng Quốc lộ 1A để đi về Thành phố Hồ Chí Minh, do thiếu ch ý quan sát nên L đã để góc cản trƣớc bên phải xe ôtô đầu kéo biển số 51C – 585.67 đụng vào bên hông trái xe mô tô Honda Wave Alpha biển số 84K1 – 2677 do chị Nguyễn Yến Ph điều khiển lƣu thông cùng chiều phía trƣớc xe ôtô đầu kéo biển số 51C – 585.67, làm xe mô tô biển số 84K1 – 2677 và chị Ph ngã xuống đƣ ng bị hàng bánh sau bên phải xe ôtô đầu kéo và r mooc cán chèn lên ngƣ i, dẫn đến tai nạn giao thông, hậu quả chị Ph tử vong tại chỗ.

Nhƣ vậy, hành vi trên đây của bị cáo Nguyễn Văn L chuyển hƣớng rẽ phải do thiếu ch ý quan sát phía trƣớc và không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền phía trƣớc, gây tai nạn giao thông dẫn đến hậu quả nghiêm trọng đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đƣ ng bộ, là nguyên nhân chính gây tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣ ng bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng số: 302/CT-VKS ngày 23 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣ ng bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đ ng ngƣ i, đ ng tội, đ ng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, hành vi chuyển hƣớng rẽ phải do thiếu ch ý quan sát phía trƣớc và không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền phía trƣớc dẫn đến tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng của Nguyễn Văn L là nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe và tính mạng con ngƣ i đƣợc pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo cùng với bị đơn dân sự đã bồi thƣ ng khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, đồng th i đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự và yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Bị cáo là ngƣ i có nhân thân tốt thể hiện bị cáo là ngƣ i chƣa có tiền án, tiền sự đồng th i bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện đang nuôi các con trong độ tuổi đi học nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt:

- Về hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng nhƣng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nghề nghiệp ổn định, có nơi cƣ tr rõ ràng, trong th i gian tại ngoại chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phƣơng, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn miễn trách nhiệm hình sự và yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đồng th i bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi các von nhỏ. Vì vậy, việc không cách ly bị cáo ra khỏi đ i sống xã hội một th i gian cũng không ảnh hƣởng đến việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm tại địa phƣơng, nên quyết định áp dụng loại hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo dƣới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phƣơng nơi cƣ tr . Đồng th i do áp dụng hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo nên cần hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ tr số: 82/2020/HSST-LCĐKNCT ngày 24 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đối với Nguyễn Văn L.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Ngƣ i phạm tội còn có thể cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù nhƣng cho hƣởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo đồng th i hiện nay bị cáo là lao động chính trong gia đình và nuôi các con trong độ tuổi đi học nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe môtô Honda Wave Alpha biển số 84K1 – 2677 là xe của anh Nguyễn Văn Chắn là chồng chị Ph làm chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Dĩ An ra quyết định trả lại chiếc xe trên cho anh Nguyễn Văn Chắn và đối với 01 (một) xe ôtô đầu kéo biển số 51C – 585.67 và r mooc biển số 51R – 204.94 Nguyễn Văn L điều khiển là tài sản của Công ty TNHH dịch vụ vận tải Diệp Tiến nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An trả lại xe ôtô đầu kéo, r mooc nói trên cho công ty TNHH dịch vụ vận tải Diệp Tiến là đ ng với quy định của pháp luật. Riêng giấy phép lái xe hạng FC của bị cáo Nguyễn Văn L, do không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử trả giấy phép lái xe cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo cùng với bị đơn dân sự thỏa thuận bồi thƣ ng cho đại diện hợp pháp của bị hại với tổng số tiền 130.000.000 đồng, ngƣ i đại diện hợp pháp cho bị hại không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣ ng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣ ng bộ”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NĐ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, th i gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân xã Quảng Tiến, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong th i gian thử thách.

Trƣ ng hợp bị cáo Nguyễn Văn L thay đổi nơi cƣ tr thì thực hiện theo khoản 1 Điều 100 Luật Thi hành án Hình sự. Trong th i gian thử thách, ngƣ i đƣợc hƣởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣ i đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.

Hủy Lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ tr số: 82/2019/HSST-LCĐKNCT ngày 24 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) giấy phép lại xe hạng FC số 790106005392 đƣợc Sở giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/12/2018.

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣ ng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, ngƣ i đại diện hợp pháp cho bị đơn có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngƣ i đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ