vanban.org

Bản án 299/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 25/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Phan Ngọc T 22 ( Hai mươi hai ) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Miễn phạt tiền cho bị cáo. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Phan Ngọc T 22 ( Hai mươi hai ) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀNG MAI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 299/2019/HSST
Ngày 25/9/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Dứa

2. Bà Phạm Thị Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân, Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 317/2019/TLST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2019, theo quyết định đưa ra xét xử số 320/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Phan Ngọc T, sinh năm 1994; Đăng ký Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn ĐT, xã HP, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Th; Họ tên bố: Phan Ngọc T; bị cáo có vợ là Trần Thị Tr; có 01 con sinh năm 2014; Tiền án,Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 17/5/2019. Hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an Thành phố Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16h45 phút ngày 17/05/2019, tổ công tác công an phường Hoàng Văn Thụ tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà nghỉ HA, phường H, quận HM, Thành phố Hà Nội. Thời điểm kiểm tra tại phòng 502 nhà nghỉ HA có 04 đối tượng Phan Ngọc T, Trịnh Văn T, Mai Ngọc L, Phạm Mai L. Quá trình kiểm tra, Phan Ngọc T tự giác giao nộp 01 túi xách màu nâu có quai đeo bên trong có 01 túi nilon kích thước 4x4 cm chứa tinh thể màu trắng. Tại chỗ, Phan Ngọc T tự khai nhận là túi xách cá nhân của T, 01 túi nilon là ma túy đá T mua về để sử dụng. Ngoài ra, cơ quan công an thu giữ của T: 01 chiếc điện thoại di động ASUS màu đen đã qua sử dụng và số tiền 1.350.000 đồng. Tổ công tác đã lập biên bản, thu giữ tang vật đưa T và những người liên quan về trụ sở để điều tra làm rõ.

Tại Bản Kết luận giám định số 3182/KLGĐ-PC09 ngày 24/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội xác định: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine khối lượng 0,768 gam.

Tại cơ quan Công an, Phan Ngọc T khai nhận: Ngày 14/5/2019, Phan Ngọc T và Trịnh Văn T cùng đi từ Thái Nguyên lên Hà Nội gặp hai người bạn của T là Mai Ngọc L và Phạm Mai L, các đối tượng hẹn gặp nhau tại nhà nghỉ HA ở địa chỉ lô 4B ĐL 2, phường H, quận HM, Thành phố Hà Nội. Tại đây, T gặp và quen một đối tượng tên L, qua nói chuyện T biết L có thể mua giúp ma túy nên T đã nhờ L mua giúp 01 túi ma túy đá với giá 2.000.000 đồng để về sử dụng. Sau khi mua được ma túy đá, T cùng Trần Văn T, Ngọc L, Mai L cùng sử dụng tại phòng 502 nhà nghỉ HA. Sau khi sử dụng xong, T cất số ma túy còn lại vào túi xách của mình và đi về Thái Nguyên cùng với Trịnh văn T. Đến khoảng 16h00 ngày 17/5/2019, T và Trịnh văn T quay lại nhà nghỉ HA để định rủ L và Mai L tiếp tục sử dụng ma túy nhưng chưa kịp sử dụng thì bị cơ quan công an đến kiểm tra phát hiện.

Tại cơ quan công an, các đối tượng Mai Ngọc L, Phạm Mai L, Trịnh Văn T đều khai có cùng sử dụng ma túy đá do T mang đến nhưng các đối tượng không biết ma túy do đâu T có, khi sử dụng ma túy cùng với T các đối tượng không phải trả tiền cho T, cũng không cho T lợi ích gì, các đối tượng chỉ cùng nhau sử dụng chung; các lời khai của Phạm Mai L, Trịnh Văn T và Mai Ngọc L đều phù hợp với lời khai của bị can Phan Ngọc T. Do vậy, không có căn cứ xác định các đối tượng có liên quan đến hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của T nên cơ quan CSĐT Công an quận Hoàng Mai đã ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với các đối tượng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013.

Ngày 18/5/2019, cơ quan CSĐT Công an quận Hoàng Mai đã tiến hành dẫn giải Phan Ngọc T đi xác định vị trí T mua ma túy nhưng không xác định được đối tượng Linh bán ma túy cho T.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ASUS màu đen và số tiền 1.350.000 đồng thu giữ của Phan Ngọc T, quá trình điều tra xác định là tài sản cá nhân của T, không liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại bản Cáo trạng số 298/CT/VKS-HS ngày 21 tháng 8 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo Phan Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ và hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Phan Ngọc T từ 22 tháng đến 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Miễn phạt tiền đối với bị cáo; Tịch thu tiêu hủy 0,768 gam Methamphetamine; Trả lại bị cáo 01 túi xách có quai đeo màu nâu, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Asus màu đen và số tiền 1.350.000 đồng nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tại phiên tòa bị cáo Phan Ngọc T khai nhận như khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận cáo trạng của VKS truy tố bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ xác định: Hồi 16 giờ 45 phút ngày 17/5/2019 tại phòng 502 Nhà nghỉ HA, phường H, quận HM, Thành phố Hà Nội bị cáo Phan Ngọc T đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,768 gam Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma tuý là chất độc dược huỷ hoại sức khoẻ con người, gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hành vi đó của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, do vậy phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới đủ giáo dục và phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 0,768 gam Methamphetamine là hàng hóa nhà nước cấm mua bán, tàng trữ trái phép và 1 túi xách có quai không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc điện thoại di động Asus màu đen thu giữ của bị cáo là điện thoại bị cáo dùng để liên lạc cá nhân và số tiền 1.350.000 đồng thu giữ của bị cáo không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với các đối tượng Mai Ngọc L, Phạm Mai L, Trịnh Văn T không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng đã sử dụng trái phép chất ma túy, nên Công an quận Hoàng Mai đã xử phạt hành chính là đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 mục I Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Khoản 1 mục I Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử phạt: Bị cáo Phan Ngọc T 22 ( Hai mươi hai ) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2019.

Miễn phạt tiền cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có chứa 0,768 gam Methamphetamine và 01 túi sách có quai đen màu nâu thu giữ bị cáo Phan Ngọc T.

- Trả lại cho bị cáo Phan Ngọc T 01 điện thoại Asus màu đen có số Imei1: 357886082706202; số Imei2: 357886082706210 bị vỡ kính màn hình.

(Số vật chứng trên hiện đang nhập kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, theo phiếu nhập vật chứng số 00291 ngày 22 tháng 08 năm 2019).

Trả lại cho Phan Ngọc T số tiền 1.350.000đ ( Một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng ) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. ( Số tiền trên hiện đang nộp tại tài khoản 394901048098 của Chi cục thi hành án Dân sự quận Hoàng Mai, theo giấy nộp tiền vào tài khoản năm 2019 ( Không ghi ngày tháng ) của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Hoàng Mai).

Bị cáo phải chịu 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ