vanban.org

Bản án 298/2024/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 07/06/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/06/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 218/QĐ NPT-VKS-DS ngày 21 tháng 8 năm 2023 của Viện trư ng Viện ki m sát nhân dân huyện H ng Ngự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Ph m Thị T. hông chấp nhận kháng cáo của ông Nguy n Văn S. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 218/QĐ NPT-VKS-DS ngày 21 tháng 8 năm 2023 của Viện trư ng Viện ki m sát nhân dân huyện H ng Ngự.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
T A N NH N D N
TỈNH ĐỒNG TH P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 298/2024/DS-PT
Ngày: 07-6-2024
V/v tranh chấp dân sự về
quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NH N D N TỈNH ĐỒNG TH P

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Nguy n Ng c V ng.

Các Thẩm phán:

ng Sỹ Danh Đ t;

ng Đinh Chí Tâm.

- Thư ký phiên tòa: ng Nguy n Bảo Quốc- Thư ký T a án nhân dân t nh Đ ng Tháp.

- Đ i di n Vi n Ki m sát nhân dân t nh Đồng Tháp: Bà Nguy n Ng c Trang - i m sát viên tham gia phiên t a.

Trong các ngày 31/5 và 07/6/2024 t i trụ s T a án nhân dân t nh Đ ng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý 311/2023/TLPT- DS ngày 27 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2023 của T a án nhân dân huyện H ng Ngự bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 490/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Ph m Thị T, sinh năm 1949; Địa ch : Ấp B, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền cho bà Phạm Thị T: Ông Cao Văn L, sinh năm 1967. Địa ch cư trú: hóm C, phường A, thành phố H, t nh Đ ng Tháp. (Có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T: Luật sư Đỗ Thị Ng c O – Văn ph ng L4, Đoàn luật sư t nh Đ. (Có mặt)

2. Bị đơn: ng Nguy n Văn D (tên g i khác: G), sinh năm 1955; Địa ch : Ấp B, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp.

Đ i diện theo ủy quyền của ông D: Bà Huỳnh Thị L1, sinh năm 1949; Địa ch : Số E đường số A, Tổ C, phường C, quận T, Thành phố H Chí Minh. (Có mặt)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Chị Trần Thị D1, sinh năm 1978; Địa ch : Ấp B, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

3.2. Ông Nguy n Văn N, sinh năm 1976; Địa ch : Ấp B, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

3.3. Ông Nguy n Văn S, sinh năm 1964; Địa ch : Ấp F, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

3.4. Bà Huỳnh Thị L1, sinh năm 1949; Địa ch : Số E đường số A, Tổ C, phường C, quận T, Thành phố H Chí Minh.

3.5. Bà Nguy n Thị Đ, sinh năm 1955; Địa ch : Ấp T, xã B, huyện T, t nh Đ ng Tháp. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

3.6. Bà Nguy n Thị S1, sinh năm 1957; Địa ch : Ấp T, xã T, huyện T, t nh Đ ng Tháp. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

3.7. Bà Nguy n Thị N1, sinh năm 1967; Địa ch : hóm C, phường A, thành phố H, t nh Đ ng Tháp. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

3.8. Bà Nguy n Thị P, sinh năm 1970; Địa ch : Ấp B, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

3.9. Bà Nguy n Thị D2, sinh năm 1976; Địa ch : Ấp F, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp. (Có mặt)

4. Người kháng cáo: Bà Ph m Thị T là nguyên đơn và ông Nguy n Văn S là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

5. háng nghị: Viện trư ng Viện ki m sát nhân dân huyện H ng Ngự.

NỘI DUNG VỤ N:

- Theo đơn khởi kiện ngày 22/8/2022 và ngày 19/9/2022, trong quá trình tiến hành tố tụng cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Phạm Thị T do ông Cao Văn L đại diện theo ủy quyền, trình bày: Ngu n gốc đất đang tranh chấp là của ch ng bà T là ông Võ Văn G1 (chết năm 2014) và vợ trước là Lê Thị L2 (chết năm 1978). Sau khi bà L2 chết thì vào năm 1980 ông G1 cưới bà T. Ông G1 chung sống với bà L2 cũng như bà T không có người con chung nào.

Năm 1980 ông G1 mua phần đất tranh chấp của ông Bảy N2 (đã chết, không rõ năm, h tên đầy đủ), không rõ con cháu của ông Bảy N2 h tên đầy đủ, năm sinh, địa ch đâu, phần đất có diện tích chiều ngang 35-36m chiều dài một đầu khoảng 23m, một đầu khoảng 18m, việc mua bán đất không có làm giấy tờ, nhưng có anh em ông D chứng kiến, với giá 01 ch vàng 24kra (vàng 9T8). Sau khi mua đất thì ông G1 có cất nhà từ năm 1980 đến năm 1984 thì không c n sử dụng đất. Năm 1984 ông G1 di dời nhà lên chợ Cả Sách thuộc xã T sinh sống, đến năm 1988 ông Nguy n Văn S là cháu ruột của ông G1, g i ông G1 là cậu, là em ruột của ông D, hỏi ông G1 phần đất tranh chấp đ cất nhà . ng S từ năm 1988 đến năm 2006 thì di dời nhà, không c n t i phần đất tranh chấp. Cây tr ng hiện trên đất tranh chấp g m b ch đằng trên 50 cây, tre khoảng 02 bụi là của ông S tr ng, 01 bụi tre gần nhà của bà P là của ông G1, không phải của ông D tr ng, ông D ch tr ng chuối, dừa vào năm 2020, bà T không có tr ng cây gì trên đất.

Năm 2006 ông D hỏi ông S, vì ông S được ông G1, bà T giao quản lý phần đất tranh chấp và cũng hỏi ông G1, bà T phần đất tranh chấp đ cất nhà , sẳn trông coi m mã ông bà phía sau. Việc cho ông D mượn đất tranh chấp sử dụng thì không có giấy tờ, ch có anh chị em ông D biết, c n trước năm 2006 ông D đâu ông không biết, vì ông D có rất nhiều vợ nên sống rất nhiều nơi. Trong đơn kh i kiện trình bày ông D hỏi mượn đất năm 1987 là chưa chính xác, vì chữ nghĩa không rành. hi bà T giao phần đất tranh chấp cho ông S, ông D quản lý, sử dụng thì bà T cũng thường tới lui phần đất tranh chấp. Ông S, ông D không trên đất của ông Sáu B (giáp ranh đất tranh chấp) do đất ông B thấp quá không được.

Nguyên nhân phát sinh tranh chấp và do bà T nghe ông D kêu bán phần đất mà vợ ch ng bà T đã cho ông D nhờ. T i Ủy ban nhân dân xã T khi hai bên h a giải thì ông D thống nhất cho bà T 50.000.000đ, không đ ng ý trả l i đất cho bà T. Ông D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2019 bà T không biết, khi ông D được cấp quyền sử dụng đất không biết có đo đ c thực tế không, bà P không có ký tên giáp ranh, ranh ông Sáu B là do ông D tự ký tên. Trong h sơ cấp quyền sử dụng đất cho ông D bà P có ký tên là do bà P nghĩ cán bộ đo đ c đất cấp quyền sử dụng đất cho bà P, là phần đất ông Sáu B đ l i, chứ không phải ký tên xác nhận ranh đất đ cho ông D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. hi ông D cấm bảng thông báo bán đất thì bà T mới phát hiện ông D được cấp quyền sử dụng đất.

Vào năm 2022 ông D có chuy n nhượng phần đất cho ông N nhưng diện tích, giá cả bao nhiêu thì bà T không biết. hi biết ông D bán đất cho ông N thì bà T ngăn cản. Nếu ông D không đăng bảng bán đất thì bà T cũng yêu cầu ông D trả l i phần đất đã cho mượn đ sử dụng. Ngoài phần đất tranh chấp thì bà T không c n phần đất nào khác t i xã T, không biết bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không biết số thửa đất, tờ bản đ phần đất bà T đang cất nhà .

Phần đất giáp ranh với đất tranh chấp, phía ngoài giáp đất ông Nguy n Văn S ký tứ cận là của cha ruột ông S là ông Nguy n Văn B1 đ l i nhưng ông S đ i diện quản lý, là của chung các anh em ông S. Ông Nguy n Văn B1 (chết năm 2015), vợ Phan Thị S2 (chết năm 1981), ông B1, bà S2 có tổng cộng 10 người con g m: 1. Nguy n Thị Đ, 2. Nguy n Thị S1, 3. Nguy n Văn D, 4. Nguy n Văn S, 5. Nguy n Thị N1, 6. Nguy n Thị P, 7. Nguy n Thị D2. Ba người con c n l i của ông B1 ông không biết h tên, năm sinh, vì đã chết lúc còn nhỏ, chưa có vợ, ch ng con. Bà T không tranh chấp ranh đất với các con ông B1. Việc ông N có yêu cầu ông D trả l i tiền đặt c c mua đất thì bà T không có ý kiến. ng D nhận tiền của ông N thì có trách nhiệm trả l i tiền cho ông N. Đất của bà T nhưng ông S trình bày là ông D được hay không được là do ông S quyết định là không đúng.

Nay bà Ph m Thị T yêu cầu ông Nguy n Văn D trả l i phần đất có diện tích theo sơ đ đo đ c thực tế là 780,6m2 thuộc thửa đất 1114 tờ bản đ số 04 đất t a l c t i xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp do ông D đứng tên quyền sử dụng đất và t i phiên t a ông L yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông D đối với phần đất hiện đang tranh chấp. Nếu ông D xuất trình được chứng cứ chứng minh đất đang tranh chấp là của ông D được Nhà nước cho, không phải đất ông G1 thì bà T thống nhất rút đơn kh i kiện, không tranh chấp với ông D nữa. Nếu ông D hỗ trợ cho bà T 50.000.000đ thì ông đ i diện cho bà T không đ ng ý nhận tiền, nếu buộc ông D di dời nhà, tài sản khác trên đất trả l i quyền sử dụng đất cho bà T thì bà T cũng không đ ng ý hỗ trợ tiền di dời nhà hay b i thường thành quả lao động, tôn t o, công sức bảo quản đất của ông D.

- Nguyên đơn bà Phạm Thị T, trình bày: Bà có nghe lời trình bày của ông Cao Văn L, bà có ủy quyền cho ông L đ i diện bà tham gia tố tụng t i T a án, về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với ông D. Bà là vợ ông G1, khi ông G1 chung sống với bà L2 và bà không có người con nào. Phần đang tranh chấp là của ông G1 mua của ông Bảy N2, không nhớ năm, ch nhớ lúc đó ông G1 và bà chưa kết hôn, với giá 01 ch vàng 24kra, diện tích đất bao nhiêu không biết. Năm 1980 thì bà và ông G1 chung sống với nhau (kết hôn), sau khi cưới bà thì ông G1 nói với bà là mua đất của ông Bảy N2 với giá 01 ch vàng nên bà mới biết, việc mua đất ch nói miệng, không có giấy tờ, con cháu ông Bảy N2 hiện đang đâu, h tên gì bà không biết. hi kết hôn với ông G1 thì bà và ông G1 cùng sống t i phần đất tranh chấp đến năm 1984 thì vợ ch ng bà về trên chợ C thuộc xã T sinh sống đến nay, bà và ông G1 cũng thường xuyên buôn bán, qua l i giữa Campuchia và Việt Nam. Vào năm 1984 khi vợ ch ng bà về xã T sinh sống thì giao l i phần đất tranh chấp cho ông Sáu B là cha ruột của ông D. Việc giao đất cho ông B là đ trông coi dùm, không phải cho luôn hay chuy n nhượng l i. ng B kế bên phần đất tranh chấp (là đất giáp ranh ngoài chỗ bà P đang cất nhà ), ông B không có cất nhà t i phần đất tranh chấp, c n có tr ng cây hay không thì bà không biết. hông nhớ ông Nguy n Văn S cất nhà t i đất đang tranh chấp khi nào nhưng có hỏi ông G1 cất nhà nhờ, không biết diện tích ông S cất nhà chiều ngang dài bao nhiêu, không biết ông S có tr ng cây gì t i đất tranh chấp hay không.

Ông D cất nhà khi nào không biết, cũng không nhớ cách nay bao nhiêu năm, không rõ diện tích ông D cất nhà nhưng có hỏi vợ ch ng bà, việc cho ông D t i phần đất tranh chấp là cho nhờ, không phải cho luôn, cũng không có nói cho bao lâu, ch nói khi nào bà cần thì trả l i cho bà, việc cho ông D nhờ t i phần đất tranh chấp không có giấy tờ, không có ai chứng kiến ch có vợ ch ng bà biết. Lúc đầu ông D hỏi nhờ t i đất tranh chấp là ch cất một cái tr i c n căn nhà hiện nay thì bà không biết cất l i khi nào, khi ông D cất l i nhà thì bà không có tranh chấp hay ngăn cản, vì 02 năm nay bà không qua l i t i phần đất tranh chấp. Từ trước đến nay bà không có kê khai hay đăng ký quyền sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp. Phần đất hiện bà đang t i xã T cũng là của vợ ch ng bà mua, mua của ai và năm nào, giá bao nhiêu thì bà không nhớ, hiện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra, vợ ch ng bà không c n phần đất nào khác. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp là do bà nghe xóm nói ông D bán đất, nếu ông D không bán phần đất hiện đang tranh chấp thì bà cũng không thống nhất cho ông D tiếp tục t i phần đất tranh chấp, vì ông D quá lâu. Việc ông D chuy n nhượng đất cho ông N khi nào, giá bao nhiêu thì bà không biết, bà không có ý kiến gì về việc ông N yêu cầu ông D trả l i tiền c c mua đất.

Nay bà yêu cầu ông Nguy n Văn D trả l i đất cho bà nhưng không biết diện tích, số thửa đất, tờ bản đ bao nhiêu. hi Ủy ban nhân dân xã T h a giải thì ông D thống nhất cho bà 50.000.000đ thì bà không đ ng ý, bà ch yêu cầu lấy l i đất. hông đ ng ý hỗ trợ tiền chi phí di dời nhà, công sức đóng góp tôn t o cũng như bảo quản phần đất tranh chấp cho ông D, không đ ng ý cho ông D phần đất có căn nhà của ông D. hông tranh chấp ranh đất với các con ông B. Ngoài ra, bà không trình bày gì khác.

- Trong quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn D, do bà Huỳnh Thị L1 đại diện theo ủy quyền cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, trình bày: Ngu n gốc đất tranh chấp là của Tập đoàn xã T cấp ông D vào năm 1977, không có giấy tờ, không có ai chứng kiến. Nguyên nhân được cấp đất là do thuộc hộ nghèo, không có đất nên Nhà nước cấp cho ông D. Sau khi được cấp đất thì ông D cất nhà, đào ao, tr ng cây cho đến nay nhưng t i phiên t a bà L1 trình bày năm 2007 bà và ông D cùng sống T đến năm 2014 về quê sống nhưng cũng thường xuyên tới lui, bà và ông D về phần đất tranh chấp cách nay khoảng mười mấy năm. Chị Trần Thị D1 là con ruột của ông D, chung hộ khẩu với ông D, chị D1 lấy h Trần là theo h của cha dượng. C n người vợ hiện t i của ông D là bà, bà sống chung với ông D cách nay trên 20 năm nhưng không có đăng ký kết hôn, bà thường xuyên sống trong căn nhà trên đất tranh chấp, nhà và cây tr ng trên đất tranh chấp là của ông D và bà, ông S, ông B, ông G1 không có tr ng cây gì trên đất tranh chấp.

Đến năm 2019 thì ông D được cấp quyền sử dụng đất, khi ông D được cấp quyền sử dụng đất không có ai khiếu n i hay ngăn cản. hi ông D được cấp quyền sử dụng đất có đo đ c thực tế, có tứ cận giáp ranh ký tên trong đó có Nguy n Thị P là em ruột của ông D ký tên có đất giáp ranh.

Cha ruột của ông D là ông Nguy n Văn B1 (đã chết không nhớ năm, ch biết chết năm 79 tuổi, mẹ là Võ Thị S3 (chết năm 43 tuổi, không nhớ năm). Ông B1, bà S3 có tổng cộng bao nhiêu người con và h tên từng người bà không biết.

Năm 1981 ông D có chuy n nhượng (bán) cho ông Năm T1 (không rõ h tên, năm sinh sống gần đất tranh chấp, phần đất có diện tích bao nhiêu không biết, ch biết là đất ngoài trụ điện, phía trên khu m mã, với giá 03 ch vàng 24kra (vàng 9T8).

Vào năm 2022 thì ông D có chuy n nhượng cho ông Nguy n Văn N phần đất có diện tích chiều ngang 06m, chiều dài 20m (tính từ mí đường đal bắn thẳng hết đất), với giá 150.000.000đ, ông N đã đặt c c cho ông D số tiền 30.000.0000đ, việc mua bán đất có làm giấy tay.

Năm 2016 ông Nguy n Văn S kêu vợ ch ng bà bán cây tr ng g m 03 bụi tre, khoảng 20 cây b ch đằng t i phần đất tranh chấp với 15.000.000đ nhưng lúc đầu ông S kêu bán với giá 20.000.000đ, vợ ch ng bà thống nhất trả tiền cho ông S nên ông D mới làm được hàng rào lưới B40 như hiện nay mà không có ai tranh chấp ngăn cản. Phần đất tranh chấp bà không biết trước đó ông S có từng cất nhà hay không nhưng có tr ng cây. hông biết ông S tr ng cây khi nào, nguyên nhân đất của ông D được tập đoàn cho năm 1977 mà ông S được tr ng cây là do lúc đầu ông D tr ng cây nhưng ông S nói là của ông S tr ng nên ông D cũng thống nhất cây của ông S tr ng nên trả tiền. Bà khẳng định căn nhà hiện ông D đang là cất năm 2018, khi cất nhà không có tranh chấp ngăn cản, c n trước đó ông D có cất một cái ch i nhỏ (tr i) t i phần đất bán cho ông N (chỗ bụi tre) nhưng không biết diện biết bao nhiêu, cái ch i (tr i) cất năm nào không nhớ, ch nhớ cách nay khoảng mười mấy năm.

Nay bà T kh i kiện yêu cầu ông D trả l i phần đất có diện tích 780,6m2 thuộc thửa đất 1114, tờ bản đ 4 do ông D đứng tên quyền sử dụng đất thì ông D không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà T. Thống nhất trả l i cho ông Nguy n Văn N 30.000.000đ tiền đặt c c mua đất. ng D không có tranh chấp thừa kế đối với đất của cha mẹ đ l i cũng như không tranh chấp ranh đất với anh em ông S. hi xã h a giải ông D thống nhất cho bà T 50.000.000đ, vì lúc đó bà T bệnh, than khó khăn nên xã có động viên và ông D thống nhất cho bà T 50.000.000đ nhưng nay bà T tranh chấp, thưa đến T a án thì ông D không đ ng ý cho tiền bà T nữa. Nếu bà T đ ng ý cho ông D phần đất hiện ông D đang cất nhà , phần đất c n l i trả l i cho bà T thì bà không đ ng ý, ông D hiện đang thiếu nợ người ta hơn 200.000.000đ nên sẽ bán hết phần đất tranh chấp đ trả nợ, bà không biết việc anh em ông D cho ông D nền nhà gần nhà bà P. Ngoài ra, bà không trình bày hay yêu cầu nào khác.

- Ông Nguyễn Văn D trình bày: ng có nghe lời trình bày của bà L1, thống nhất những gì bà L1, không bổ sung gì thêm.

- Ông Nguyễn Văn S trình bày: ng là em ruột ông D, không có mâu thuẫn gì với ông D. Ngu n gốc đất tranh chấp là của ông Võ Văn G1, ch ng bà Ph m Thị T là cậu ruột của ông. ng G1 mua đất tranh chấp là đất ao của ông Bảy N2 diện tích 609,3m2 và đất đ chôn m mã ông bà là 30m2 với giá bao nhiêu thì ông không biết, vì lúc đó ông c n nhỏ, ông biết đất tranh chấp của ông G1 là do bà T k l i. Sau khi mua đất vào năm 1980 thì ông G1 t i phần đất tranh chấp được 03 năm r i ông G1 đi về xã T sinh sống và g i phần đất tranh chấp l i cho cha ruột ông là ông Nguy n Văn B1 trông coi dùm. Năm 1988 ông có hỏi ông G1 xin cất nhà t i phần đất tranh chấp (t i phần đất ông N hỏi mua) và ông có tr ng tre và b ch đàn số lượng khá nhiều, không biết chính xác cụ th bao nhiêu và sau đó đã bán l i cho ông D với giá 10.000.000đ, đã trả tiền xong, không nhớ bán cây cho ông D vào ngày tháng năm nào. Do ông D trên đất sử dụng (xài) cây ông tr ng nhiều quá không hỏi ông nên ông bán l i hết cho ông D.

Năm 2006 ông mua được nền nhà cụm tuyến dân cư ấp F, xã T nên di dời nhà về phần đất đã mua. Cũng trong năm 2006 ông D không có chỗ ổn định nên xin ông cho ông D t i phần đất đang tranh chấp đ giữ gìn phần đất của ông G1 và cây ông tr ng và trông coi m mã người thân, lý do ông D hỏi ông xin được t i phần tranh chấp mà không hỏi ông G1, bà T là do vào năm 2006 ông G1, bà T đã về Campuchia sinh sống. ng D không trên đất của cha mẹ ông là do đất thấp cất nhà không được. Việc ông D kê khai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông không biết, vì xung quanh không có tứ cận ký tên trong đó có đất của cha ông cũng không mời anh chị em ông ký tên đất giáp ranh. Phần đất giáp ranh với đất tranh chấp, là ranh ngoài là giáp với đất cha ông, hiện anh chị em ông đang quản lý, sử dụng. Cha ông tên Nguy n Văn B1, mẹ là Phan Thị S2 có tổng cộng 10 người con hiện c n 07 người g m Nguy n Thị Đ, Nguy n Thị S1, Nguy n Thị N1, Nguy n Thị P, Nguy n Thị D2, Nguy n Văn S và Nguy n Văn D, 03 người con c n l i tên Nguy n Bảo S4 (không nhớ chết năm nào, không rõ có vợ con gì chưa), Nguy n Văn Q (không biết chết năm nào, ch nghe nói có vợ con nhưng h tên, địa ch , năm sinh của vợ con ông Q đâu thì ông không biết, vì không có liên l c), Nguy n Thị P1 (không rõ đã chết hay con sống, không liên l c được nên không biết hiện t i đang đâu). Ngoài ra, cha mẹ ông không c n người con nào khác. ng thống nhất ranh đất như ông D đã xác định, nhưng không biết theo sơ đ đo đ c thực tế từ mốc nào đến mốc nào.

Phần đất tranh chấp giữa bà T và ông D thì ông có ý kiến là yêu cầu ông D trả l i đất cho bà T, đ con cháu , phía sau có m mã người thân. Nếu ông D không kêu bán phần đất hiện đang tranh chấp thì ông D vẫn bình thường, bà T sẽ không tranh chấp và anh chị em ông cũng không có ý kiến gì, quyền quyết định việc cho ông D t i phần đất tranh chấp hay không là do ông, nhưng ông khẳng định là ông D vẫn được t i phần đất tranh chấp nhưng không được mua bán, chuy n nhượng cho người khác. ng D bán đất là do bà L1 xúi giục, nếu ông D không bán đất thì sẽ được trên đất vĩnh vi n, anh em sẽ không tranh chấp.

Phần đất ông D bán cho ông Năm T1 là của ông Sáu B, vì trước đó ông D nói với ông B là nghèo khổ, xin ông B bán phần đất cho ông Năm T1 chứ không phải đất của ông D. Đất của bà T mà ông cho rằng ông D hay không là do ông quyết định là vì khi ông G1 c n sống có nói cho ông, việc ông G1 nói cho ông phần đất tranh chấp ch nói miệng, ông D làm hàng rào lưới B40 là đ ngăn vật nuôi chứ không phải đất ông D nên ông D rào l i, xác lập quyền sử dụng đất, do anh chị em c n l i của ông ủng hộ nên bà T mới kh i kiện ông D. Ông G1 chung sống với bà L2, bà T không có con chung. Ông không có tranh chấp hay yêu cầu chia thừa kế đối với phần đất cha mẹ ông đ l i, không tranh chấp ranh đất với ông D và bà T. Ngoài ra, không trình bày gì khác.

- Bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Bà là chị ruột của ông D, ông S4, không có mâu thuẫn gì với ông D, bà T. Bà g i bà T là mợ út. Bà có nghe lời trình bày của ông S4, thống nhất lời trình bày của ông S4, không bổ sung gì thêm. Bà không tranh chấp ranh đất với bà T, ông D, không yêu cầu chia thừa kế đối với phần đất cha mẹ bà đã đ l i. Ngoài ra, không trình bày gì khác.

- Bà Nguyễn Thị S1 trình bày: Bà là chị ruột ông D, ông S4 không có mâu thuẫn gì với ông D, bà T. Bà đã nghe lời trình của ông S4 thống nhất những gì ông S4 đã trình bày, không bổ sung gì thêm. hông tranh chấp ranh đất với ông D, bà T cũng như phần đất cha mẹ đã đ l i cho anh chị em bà. Ngoài ra, không trình bày gì khác.

- Bà Nguyễn Thị N1 trình bày: Bà là em ruột ông D, ông S4, không có mâu thuẫn gì với ông D, bà T. Bà đã nghe lời trình của ông S4, thống nhất những gì ông S4 đã trình bày, không bổ sung gì thêm. Bà không tranh chấp ranh đất với ông D, bà T cũng như phần đất cha mẹ đã đ l i cho anh chị em bà. Ngoài ra, không trình bày gì khác.

- Bà Nguyễn Thị P trình bày: Bà là em ruột ông D, ông S4, không có mâu thuẫn gì với ông D, bà T. Bà đã nghe lời trình của ông S4, thống nhất những gì ông S4 đã trình bày, không bổ sung gì thêm. Bà không tranh chấp ranh đất với ông D, bà T cũng như phần đất cha mẹ đ l i cho anh chị em bà. Năm 2017 khi bà kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất bà đang cất nhà , giáp với đất ông D đang cất nhà thì bà có ký tên nhưng chưa bao giờ ký tên có đất giáp ranh với đất tranh chấp đ ông D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thẩm phán có cho bà xem biên bản đo đ c ch nh lý bản đ địa chính ngày 20/12/2018 trong đó có bà thừa nhận đó là chữ ký và chữ viết của bà. Ngoài ra, không trình bày gì khác.

- Bà Nguyễn Thị D2 trình bày: Bà là em ruột ông D, ông S4, không có mâu thuẫn gì với ông D, bà T. Bà đã nghe lời trình của ông S4, thống nhất những gì ông S4 đã trình bày. Bà có ý kiến là đề nghị ông D trả l i phần tranh chấp cho bà T. Ngoài phần đất ông D đang nhờ đất của bà T, ông G1 thì cha mẹ bà c n phần đất khác, giáp phần đất hiện đang tranh chấp, anh chị em bà có thỏa thuận, chia cho ông D một nền nhà ngang 05m dài khoảng 20m nhưng ông D không chịu nhận, cứ dành đất tranh chấp là của ông D. Nếu ông D thống nhất di dời nhà, tài sản khác trả l i đất cho bà T thì anh chị em của bà thống nhất cho ông D phần đất mà cha mẹ đã đ l i đ cất nhà , là phần đất cặp ranh ngoài phần đất tranh chấp, giáp với nhà bà P. Bà không tranh chấp ranh đất với ông D, bà T cũng như phần đất cha mẹ đã đ l i cho anh chị em bà. hi bà T kh i kiện ông D thì bà là người đ i diện theo ủy quyền cho bà T, sau đó bà T mới chấm dứt ủy quyền cho bà mà ủy quyền l i cho ông Cao Văn L. T i phiên tòa bà D2 trình bày: Khi ông G1 c n sống có nói phần đất này cho các anh chị em bà , ai khổ thì nhưng không được bán, do ông D bán đất nên thưa kiện, bà và ông S4 nhiều lần khuyên ông D cứ trên đất nhưng không được bán đất, đ con cháu nhưng ông D không đ ng ý, bà là người thưa kiện đầu tiên, bà L1 xúi ông D bán đất, c n nợ của ông D thì bà không biết, khi ông D làm hàng rào, sửa nhà thì anh em bà biết nhưng không thông báo cho bà T, vì ông D nói rào gà, vịt. Ngoài ra, bà không trình bày gì khác.

- Chị Trần Thị D1, trình bày: Chị là con ruột của ông Nguy n Văn D và bà Nguy n Thị T2. Chị không có mâu thuẫn gì với ông D, còn bà Ph m Thị T là ai thì chị không biết. hông nhớ ngày tháng năm, khi chị mới 04 tuổi thì cha mẹ chị đã ly hôn, mẹ chị có ch ng khác nên làm giấy khai sinh chị lấy h cha dượng là h Trần. Phần đất mà bà T, ông D đang tranh chấp thì chị nghe mẹ chị k l i là có ngu n gốc từ cha mẹ chị mua của ông ngo i ông D (tức là ông c của chị, không biết h tên, năm sinh), không biết mua năm nào, ch nói miệng không làm giấy tờ, không biết diện tích bao nhiêu, vị trí ra sao, tứ cận giáp đất ai, giá bao nhiêu, chị ch biết đó là phần đất ông D đang cất nhà và làm hàng rào lưới B40. Sau khi mua đất thì cha mẹ chị cất nhà , không rõ cất năm nào, không biết cha mẹ chị có tr ng cây trên đất hay không. Trước khi ông c bán đất cho cha mẹ chị có những ai sử dụng đất thì chị không biết.

Nay bà T yêu cầu ông Nguy n Văn D di dời nhà và tài sản khác (nếu có) trả l i cho bà T phần đất có diện tích 609,3m2 thuộc thửa đất số 1114 tờ bản đ số 04, đất t a l c xã T do ông D đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (theo sơ đ đo đ c thực tế có diện tích 780,6m2 thuộc thửa 1114 và phần đất giao thông) thì chị không có ý kiến, tranh chấp hay yêu cầu gì khác. Mẹ chị nói với chị là ông D muốn làm gì làm, mẹ chị không có ý kiến hay tranh chấp gì đối với phần đất mà bà Ph m Thị T và ông D tranh chấp, vì bà đã bỏ đi nhiều năm nay. Ngoài ra, chị không trình bày gì thêm.

- Ông Nguyễn Văn N trình bày: Vào ngày 17/02/2022 ông và ông D có thỏa thuận, ông Nguy n Văn D chuy n nhượng cho ông một nền nhà có diện tích chiều ngang 06m dài từ mé kinh vô tới ranh trong với giá 150.000.000đ, việc mua bán có làm giấy tay và ông đã đưa tiền đặt c c mua đất cho ông D là 30.000.000đ. Sau đó, anh em ông D phát sinh tranh chấp, ông S4 c n nói với ông, anh em ông S4 chém nhau, sáo trộn nhau thì ông phải chịu trách nhiệm và ông mua đất sao không hỏi ý kiến của anh chị em ông S4, ông biết ông D có quyền sử dụng đất nên hỏi mua đất, do đất tranh chấp nên ông D không giao đất cho ông được và anh em ông D nhiều lần xúc ph m ông nên ông không đ ng ý mua đất của ông D nữa. ng yêu cầu ông Nguy n Văn D trả l i cho ông 30.000.000đ tiền đặt c c mua đất, không yêu cầu b i thường thiệt h i do việc mua bán đất không thành hay ph t c c đối với ông D hay yêu cầu tính lãi đối với số tiền ông đã đưa cho ông D. Ngoài ra, không yêu cầu nào khác.

T i Bản án sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện H ng Ngự đã quyết định:

1. hông chấp nhận yêu cầu kh i kiện của bà Ph m Thị T, về việc yêu cầu ông Nguy n Văn D trả l i phần đất theo sơ đ đo đ c thực tế có diện tích 780,6m2 trong ph m vi từ mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M9, M10 tr về mốc M1 thuộc một phần thửa 1114 tờ bản đ 4 do hộ ông Nguy n Văn D đứng tên quyền sử dụng đất và một phần đất giao thông do Nhà nước quản lý, đất t a l c t i ấp B, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp.

(Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự và sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 24/11/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện H, tỉnh Đồng Tháp Tháp).

2. Công nhận sự thỏa thuận giữa ông Nguy n Văn N và ông Nguy n Văn D. Ông Nguy n Văn D trả l i cho ông Nguy n Văn N 30.000.000đ (Ba mươi triệu đ ng) tiền đặt c c chuy n nhượng quyền sử dụng đất.

Ngoài ra, bản án c n tuyên về án phí, chi phí xem xét thẩm định t i chỗ và định giá tài sản, quyền và thời h n kháng cáo, quyền, nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

- Ngày 18/8/2023, bà Ph m Thị T kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm số: 33/2023/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2023 của T a án nhân dân huyện H ng Ngự (đ chuy n h sơ về T a án nhân dân t nh Đ ng Tháp giải quyết vì vụ án thuộc thẩm quyền của T a án nhân dân t nh Đ ng Tháp xét xử) vì bản án sơ thẩm đã vi ph m nghiêm tr ng thủ tục tố tụng và vi ph m về mặt nội dung vụ án.

- Ngày 21/8/2023, ông Nguy n Văn S kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm số: 33/2023/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2023 của T a án nhân dân huyện H ng Ngự (đ chuy n h sơ về T a án nhân dân t nh Đ ng Tháp giải quyết vì vụ án thuộc thẩm quyền của T a án nhân dân t nh Đ ng Tháp xét xử) vì cần phải hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông D vì việc cấp đất này là sai đ buộc ông D trả l i phần đất tranh chấp cho bà T vợ ông G1 là đúng sự thật vụ án.

- Ngày 21/8/2023, Viện trư ng Viện ki m sát nhân dân huyện H ng Ngự có Quyết định kháng nghị số 218/QĐ NPT-VKS-DS đề nghị sửa bản án sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2023 của T a án nhân dân huyện H ng Ngự, t nh Đ ng Tháp, chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn bà Ph m Thị T.

- T i phiên t a phúc thẩm:

+ Ông Cao Văn L trình bày: Bà Ph m Thị Thanh g nguyên yêu cầu kh i kiện và yêu cầu kháng cáo, không thỏa thuận được với Nguy n Văn D về giải quyết vụ án.

+ Bà Huỳnh Thị L1 trình bày: Ông Nguy n Văn D không thỏa thuận được với bà Ph m Thị T.

+ Ông Nguy n Văn S trình bày: Giữ nguyên việc kháng cáo yêu cầu ông D trả đất tranh chấp l i cho bà Ph m Thị T.

- Đ i diện Viện ki m sát nhân dân t nh Đ ng Tháp phát bi u ý kiến về giải quyết vụ án:

+ Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đ ng xét xử, Thư ký và các đương sự đều thực hiện đúng quy định của pháp luật.

+ Về nội dung:Diện tích đất tranh chấp 780,6m2, t a l c xã T, huyện H. Theo Công văn số 324, ngày 9/3/2023 của UBND huyện H cung cấp thông tin, tổng diện tích tranh chấp 780,6m2 theo Sơ đ đo đ c ngày 24/11/2022 đo vẽ ký hiệu 5 thửa, trong đó thửa số 1,2,3 (tổng diện tích 609,3m2) tương ứng thửa 1114, TBĐ 04, đã cấp GCN cho hộ ông D ngày 18/02/2019; thửa số 4, 5 (diện tích 171,3m2) là đất giao thông do Nhà nước quản lý, không được xem xét cấp giấy chứng nhận.

Bản án sơ thẩm tuyên xử giải quyết không chấp nhận yêu cầu của bà T đối với diện tích 780,6m2 bao g m đất giao thông do Nhà nước quản lý là không đúng quy định pháp luật.

Theo nội dung vụ án, th hiện bà T và ông D đang tranh chẩp ai là đối tượng được QSD đất, T a cấp sơ thẩm chưa hướng dẫn, giải thích cho các đương sự, trường hợp đủ căn cứ đ chấp nhận yêu cầu của bà T thì có yêu cầu xem xét đối với giấy chứng nhận đã cấp cho ông D hay không, yêu cầu công nhận QSDĐ cho ai, căn nhà của ông D xây dựng năm 2018 và tài sản cây tr ng, ao cá trên đất giải quyết như thế nào.

T i phiên t a sơ thẩm, đ i diện bà T có yêu cầu hủy giấy chứng nhận đã cấp cho ông D nhưng không được xem xét thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Xét thấy, T a cấp sơ thẩm đã vi ph m nghiêm tr ng thủ tục tố tụng, chưa giải quyết toàn diện vụ án, ảnh hư ng nghiêm tr ng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, T a cấp phúc thẩm không th khắc phục được nên cần hủy bản án sơ thẩm, chuy n h sơ vụ án cho T a cấp sơ thẩm giải quyết l i theo thủ tục sơ thẩm. Do cần hủy bản án sơ thẩm nên chưa xem xét yêu cầu kháng cáo của bà T, ông S và kháng nghị của Viện trư ng Viện SND huyện H.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án đã được thẩm tra t i phiên t a và căn cứ vào kết quả tranh tụng t i phiên t a.

NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:

[1] Bà Ph m Thị T kh i kiện ông Nguy n Văn D về tranh chấp QSDĐ, T a án nhân dân huyện H ng Ngự thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Bà Ph m Thị T và ông Nguy n Văn S kháng cáo trong thời h n là hợp lệ. Bà T ủy quyền cho ông Cao Văn l, ông D ủy quyền cho bà Huỳnh Thị L1, thủ tục ủy quyền tham gia tố tụng t i cấp phúc thẩm phù hợp quy định nên chấp nhận. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt nên xét xử theo quy định.

[2] Ông L trình bày, diện tích đất tranh chấp 609,3m2 thửa 1114 tờ bản đ số 4, giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho hộ ông D ngày 18/12/2019; đất t i ấp B, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp. Theo đơn kh i kiện của bà T cho rằng, ngu n gốc đất là của ông Võ Văn G1 (ch ng bà T, hôn nhân thực tế) mua của ông Bảy N2 vào năm 1980, vợ ch ng bà T cho ông D mượn cất nhà nhờ nhưng ông D đăng ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ, nên bà T yêu cầu ông D trả l i đất. Bà L1 đ i diện cho ông D không đ ng ý theo yêu cầu của bà T, vì đất của ông D được Tập đoàn cấp vào năm 1977.

Ông L cho rằng, ông G1 mua đất của ông Bảy N2 (hiện nay không biết địa ch người thân của ông N2) và vợ ch ng bà T, ông G1 đã quản lý sử dụng đến năm 1984 thì vợ ch ng bà T về chợ Cả Sách sinh sống, nên giao đất l i cho ông B (cha của ông D và ông S) quản lý trông coi, đến năm 1988 thì bà T mới cho ông S mượn phần đất tranh chấp này đ cất nhà nhờ và tr ng cây. Ông S quản lý sử dụng đất đến năm 2006 thì ông D mượn đất cất cái tr i đ , quá trình sử dụng ông D cải t o đất tr ng cây và cất l i căn nhà như hiện nay.

Xét thấy, ông G1 nhận chuy n nhượng đất của ông Bảy N2 vào năm 1980, tuy không có lập thành văn bản nhưng việc này có các anh em của ông D và các nhân chứng biết, cụ th như sau:

Ông Nguy n Văn S (em ruột của ông D) xác định phần đất tranh chấp là của ông G1 (cậu ruột của ông S và ông D) và bà T, vì ông S nghe bà T k l i mua của ông Bảy N2 là đất ao 609,3m2 và đất đ làm khu đất m mã chôn cất ông bà 30m2. Bà T và ông G1 t i đất tranh chấp được 03 năm thì đi về xã T sinh sống, mới nhờ ông Nguy n Văn B1 (cha ông S và ông D) trông coi giùm. Năm 1988, ông S có hỏi xin ông G1 cất nhà nhờ trên đất tranh chấp, đến năm 2006 thì ông S mua đất di dời nhà về cụm tuyến dân cư ấp F, lúc này do vợ ch ng ông G1 đi Cam pu chia sinh sống nên ông S mới cho ông D cất nhà nhờ giữ đất cho ông G1 và trông coi m mã. Đ ng thời ông S có bán tre, b ch đàn l i cho ông D số tiền là 10.000.000đ. Đối với các anh em của ông D như bà Nguy n Thị Đ, bà Nguy n Thị S1, bà Nguy n Thị N1, bà Nguy n Thị P và bà Nguy n Thị D2 đều khai thống nhất ngu n gốc đất là của ông G1 như trình bày của ông S. Chị Trần Thị D1 là con của ông D cho rằng, cha mẹ chị D1 ly hôn lúc chị D1 04 tuổi nên không rõ về đất tranh chấp.

T i biên bản lấy lời khai ngày 10/4/2023, ông Ph m Văn H xác nhận vào năm 1979 ông H có rủ ông G1, ông Nguy n Văn B2, ông Nguy n Văn Đ1 (hiện nay không biết địa ch hai người này) cùng mua đất của ông Bảy N2, nhưng ông H không rõ diện tích đất của ông G1 là bao nhiêu mà ch biết đất của ông G1 là đất hầm. Đến năm 1983 thì ông H bán l i phần đất của ông mua của ông Bảy N2 cho ông Sáu B, đ ng thời trong năm 1983 ông G1 cũng di dời nhà về chợ C1 sách. Khi ông G1 di dời nhà về chợ C, thì ông H không biết phần đất của ông G1 đ l i cho ai nhưng thấy ông S đã từng t i phần đất tranh chấp, tuy nhiên không rõ ông S vào năm nào.

T i biên bản lấy lời khai ngày 10/4/2023, ông Trần Văn N3 trình bày: Đất tranh chấp là của ông G1 mua của ai thì ông không biết. hi ông N3 về gần đất tranh chấp thì thấy ông G1 đã sống t i đó, không rõ ông G1 t i đất tranh chấp đến khi nào thì về xã T cất nhà . Sau đó thì ông S quản lý sử dụng đất tranh chấp và ông S có cho ông N3 thuê ao trên đất đ nuôi cá. Đối với ông D cũng có cất một cái tr i nhỏ nhưng không biết năm nào, vì ông D đi nhiều nơi nên không thường xuyên t i đất tranh chấp và cách nay khoảng 05 – 06 năm thì ông D mới cất nhà như hiện nay nhưng không đúng vị trí cái tr i ban đầu. Ngoài ra không biết ông B có hỏi mua đất tranh chấp hay không và cũng không nghe Nhà nước hay L3 Tập đoàn xã T cấp đất cho người dân thuộc diện nghèo. Mục đích ông N3 đến T a án làm chứng là do ông biết đất tranh chấp là của ông G1, nên việc ông D đăng ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ là không đúng sự thật.

[3] Đối với ông D cho rằng, Tập đoàn cấp cho ông phần đất tranh chấp vào năm 1977. Tuy nhiên theo Công văn số 349/UBND-HC ngày 26/6/2023 của Ủy ban nhân dân xã T ý kiến như sau: Vào năm 1977, xã T có Liên Tập đoàn mục đích quản lý về đất đai, thủy lợi, nông nghiệp và kho lương thực của Ủy ban nhân dân xã. Ủy ban nhân dân xã H1 không c n tài liệu của L3 Tập đoàn, nên không xác định được có giao đất cho ông Nguy n Văn D hay không. Nay bà L1 cũng thừa nhận không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc Tập đoàn cấp đất cho ông D. Ngoài ra, ông D khai là đã quản lý sử dụng đất từ năm 1977, nhưng đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ thì ông D l i kê khai thời gian sử dụng đất bắt đầu từ năm 1980. Như vậy lời khai của ông D mâu thuẫn với tài liệu kê khai trong h sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ về thời gian bắt đầu quản lý đất. Đ ng thời t i T a án cấp sơ thẩm, bà L1 xác nhận vào năm 2007 thì bà và ông D cùng sống T, Thành phố H Chí Minh đến năm 2014 mới về t i phần đất tranh chấp khoảng mười mấy năm. Ngoài ra, bà L1 thừa nhận có mua cây tr ng của ông S với số tiền 15.000.000đ.

T i Công văn số 324/UBND-HC ngày 09/3/2023 của Ủy ban nhân dân huyện H ý kiến: Thửa đất 1, 2, 3 tương ứng thửa đất số 1114 tờ bản đ số 4 đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho hộ ông D ngày 18/02/2019. Thửa 4, 5 là đất giao thông do Nhà nước quản lý, không được xét cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho hộ ông D đúng trình tự thủ tục theo quy định, t i thời đi m cấp giấy chứng nhận theo h địa chính đang quản lý có đo đ c thực tế, không có ghi nhận thành viên trong hộ và không phát sinh tranh chấp.

Nhận thấy thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận có kèm theo phiếu lấy ý kiến khu dân cư do ông D3, ông Â, ông X xác nhận ông D sử dụng đất từ năm 1980. Tuy nhiên t i Biên bản tiếp xúc ngày 12/3/2024 đối với ông Lê Văn D4 (Trư ng Ban nhân dân ấp) và ông Lý H ng Â1 (công chức địa chính xã T) và biên bản tiếp xúc ngày 12/3/2024 đối với ông Trương Văn X1 (người biết đất tranh chấp) như sau: ng D4, ông Â1 trình bày, việc xác định thời gian sử dụng đất của ông D từ năm 1980 là trên cơ s ông D kê khai và xác minh từ ông S5 (đã chết) và ông X1. Ông X1 cho rằng vào thời đi m 1980 thấy ông D sống chung với ông B nên xác nhận cho ông D đăng ký đất.

Qua nội dung trên cho thấy ngu n gốc đất tranh chấp là của bà T. Đ ng thời T a án cấp sơ thẩm cũng nhận định: “Nguồn gốc đất đang tranh chấp ban đầu là của bà Phạm Thị T và ông Võ Văn G1 mua vào năm 1980”. Nhưng T a án cấp sơ thẩm cho rằng bà T, ông G1 giao đất l i cho ông B đ đi nơi khác từ năm 1984, tiếp theo là ông S và ông D sử dụng và bà T không c n nhu cầu sử dụng đất mà đất do ông D sử dụng ổn định, nên bác yêu cầu của bà T là chưa phù hợp.

Tuy nhiên, bà T yêu cầu ông D di dời nhà cây tr ng và tài sản trả đất là có một phần cơ s . Vì thực tế ông D xây dựng nhà ổn định, không có nơi khác. T i phiên t a ông L cho rằng anh em của ông D t o điều kiện cho ông D có đất cất nhà , nhưng ông cũng thừa nhận không có chứng cứ chứng minh là ông D đã được cho đất và đã nhận đất. Căn cứ Công văn số 715/UBND-HC ngày 06/5/2024 của Ủy ban nhân dân huyện H ý kiến như sau: Thửa đất số 1114 tờ bản đ số 4 diện tích 609,3m2, mục đích sử dụng đất nuôi tr ng thủy sản; đất t a l c t i xã T (nay là xã T), huyện H, t nh Đ ng Tháp (thuộc khu vực đất t i nông thôn) thực hiện tách thửa theo quy định t i khoản 2 Điều 4 Quyết định số 22/2021/QĐ-UBND ngày 31/8/2021 của Ủy ban nhân dân t nh Đ, cụ th Điều 4: Diện tích tối thi u được tách thửa đối với đất nông nghiệp.

Các thửa đất mới hình thành sau khi tách thửa (trừ diện tích nằm trong hành lang an toàn bảo vệ công trình công cộng) phải đảm bảo diện tích tối thi u như sau:

Đất đô thị: Diện tích tối thi u 300m2 tr lên.

Đất t i nông thôn: Diện tích tối thi u 700m2 tr lên.

Phần đất giao thông 171,3m2 do Nhà nước quản lý không được xem xét cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền s hữu nhà và tài sản gắn liền với đất. Như vậy đất tranh chấp là thuộc đất nông nghiệp nông thôn thì diện tích tối thi u từ 700m2 tr lên mới được phép cho tách thửa cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Bà T không kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ và hiện nay ông D đã được cơ quan có thẩm quyền xem xét cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Do đó buộc D trả giá trị đất cho bà T là phù hợp. Theo kết quả định giá của Hội đ ng định giá tài sản, xác định mức giá là 97.500đ/m2 thành tiền 59.406.000đ (609,3m2 x 97.500đ/m2). Hộ ông D được sử dụng diện tích 609,3m2. Đối với diện tích c n l i là đất giao thông do Nhà nước quản lý (không được cấp giấy) là 171,3m2. Vì vậy kháng cáo của bà T là có một phần cơ s .

[4] Đối với kháng cáo của ông S yêu cầu ông D trả đất cho bà T là không phù hợp như đã phân tích nói trên và ông S không chứng minh được quyền lợi của ông bị ảnh nên kháng cáo của ông S là không có cơ s đ chấp nhận.

[5] Đ i diện Viện ki m sát t nh đề nghị hủy bản án dân sự sơ thẩm. Hội đ ng xét xử nhận thấy như đã phân tích nêu trên thì không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm.

Do đó chấp nhận một phần Quyết định háng nghị của Viện trư ng Viện ki m sát nhân dân huyện H ng Ngự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bà T và hông chấp nhận kháng cáo của ông S. Sửa một phần bản án sơ thẩm. Các phần khác không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

[6] Về chi phí xem xét thẩm định t i chỗ và định giá tài sản: ng D phải chịu số tiền 2.594.000đ đ hoàn trả l i cho bà T.

[7] Án phí:

Bà T được chấp nhận một phần yêu cầu nên phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ. ng D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 2.970.000đ. Bà T và ông D là người cao tuổi có yêu cầu mi n tiền án phí nên được mi n nộp tiền án phí theo quy định (Đối với nghĩa vụ chịu án phí về hợp đ ng chuy n nhượng QSDĐ không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét).

Bà T không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Ông S phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm 300.000đ

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, khoản 9 Điều 26, đi m a khoản 1 Điều 35, đi m c khoản 1 Điều 39, khoản 1, 4 Điều 91, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 229, Điều 144, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 166, Điều 246, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 24 Điều 3, Điều 26, Điều 166, đi m b khoản 2 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 14, khoản 6 Điều 15, khoản 3, 6 Điều 26, đi m a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí T a án.

1. Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 218/QĐ NPT-VKS-DS ngày 21 tháng 8 năm 2023 của Viện trư ng Viện ki m sát nhân dân huyện H ng Ngự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Ph m Thị T.

hông chấp nhận kháng cáo của ông Nguy n Văn S.

Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của bà Ph m Thị T, về việc yêu cầu ông Nguy n Văn D trả l i phần đất theo sơ đ đo đ c thực tế có diện tích 780,6m2 trong ph m vi từ mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M9, M10 tr về mốc M1 thuộc một phần thửa 1114 tờ bản đ 4 do hộ ông Nguy n Văn D đứng tên quyền sử dụng đất và một phần đất giao thông do Nhà nước quản lý; đất t a l c t i ấp B, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp.

Hộ ông Nguy n Văn D được quyền sử dụng đất theo sơ đ đo đ c thực tế có diện tích 609,3m2 thửa 1114 tờ bản đ 4, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguy n Văn D ngày 18/02/2019; đất t i ấp B, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp.

Buộc ông Nguy n Văn D phải trả giá trị đất cho bà Ph m Thị T số tiền 59.406.000đ

(Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/11/2022 của

Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự và sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh

chấp ngày 24/11/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng

đất huyện H, tỉnh Đồng Tháp Tháp).

3. Công nhận sự thỏa thuận giữa ông Nguy n Văn N và ông Nguy n Văn D. Ông Nguy n Văn D trả l i cho ông Nguy n Văn N 30.000.000đ (Ba mươi triệu đ ng) tiền đặt c c chuy n nhượng quyền sử dụng đất.

3. Về chi phí xem xét thẩm định t i chỗ và định giá tài sản: Buộc ông Nguy n Văn D phải hoàn trả cho bà Pham Thị T3 số tiền 2.594.000 đ ng.

4. Về án phí:

Bà Ph m Thị T, ông Nguy n Văn D được mi n án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Bà Ph m Thị T không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm

Ông Nguy n Văn S phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền t m ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0004492 ngày 21/8/2023 của Chi cục Thi hành dân sự huyện H, t nh Đ ng Tháp.

Ông Nguy n Văn N được nhận l i tiền t m ứng án phí đã nộp 750.000 đ ng theo biên lai thu số 0004192 ngày 07/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H ng Ngự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ