vanban.org

Bản án 298/2022/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 30/11/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/11/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy L đối với bà Phạm Thị S về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bà Phạm Thị S có trách nhiệm trả cho chị Nguyễn Thị Thúy L số tiền 165.640.000 (Một trăm sáu mươi lăm triệu sáu trăm bốn mươi nghìn) đồng, bao gồm: Nợ gốc 123.000.000 đồng và tiền lãi 42.640.000 đồng. Kể từ tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay L và S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy L đối với bà Phạm Thị S về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 298/2022/DS-PT
Ngày 30-11-2022
V/v “tranh chấp vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An Tiên.

Các Thẩm phán:

Ông Hà Chí Quốc;

Ông Phạm Văn Tâm.

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Bích – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

Bà Huỳnh Thị Mộng Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 262/2022/TLPT-DS ngày 06 tháng 9 năm 2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 51/2022/DS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2022, của Tòa án nhân dân Huyện D, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 358/2022/QĐPT-DS ngày 11 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1970; nơi cư trú: Số 595, tổ 3, ấp K, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

2. Bị đơn: Bà Phạm Thị S, sinh năm 1963; nơi cư trú: Số nhà 02, tổ 3, ấp K, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

3. Người kháng cáo: bị đơn

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 09-11-2020 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy L trình bày:

Ngày 22-9-2018 âm lịch bà S có vay của chị 123.000.000 đồng, khi vay bà S có ký giấy mượn tiền, có thỏa thuận miệng lãi suất 2%/tháng, chị đã lấy tiền lãi được 1 tháng là 2.460.000 đồng. Khi vay bà S hẹn 01 tháng trả nhưng đến nay chưa trả, chị có đến nhà gặp bà S đòi tiền nhiều lần nhưng bà S vẫn chưa trả.

Nay chị yêu cầu bà S trả cho chị số tiền 123.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 22-10-2018 âm lịch đến ngày Tòa án giải quyết vụ án.

Bị đơn bà Phạm Thị S trình bày:

Bà thừa nhận ngày 22-9-2018 âm lịch có viết giấy nợ vay chị L số tiền 123.000.000 đồng nhưng chị L không có đưa tiền mặt cho bà. Chị L giữ tiền để cắt sầu riêng, chị L sẽ trả tiền cho nhà vườn. Sau khi cắt sầu riêng về, bà đứng bán, chị L đứng thu tiền, ai mua bao nhiêu chị L thu tiền. Trong sổ chị L ghi hàng ngày bán bao nhiêu, nhận bao nhiêu, tổng kết tiền bao nhiêu chị L cất tiền. Khi đi mua và cắt sầu riêng chị L là người chi tiền ra mua. Chị L hùn vốn mua sầu riêng 3 vườn của ông Sơn, ông Dũng và bà Thu được 03 ngày thì chị L rút vốn không hùn mua bán nữa. Khi hùn mua bán sầu riêng với chị L vào khoảng tháng 8-9/2018 âm lịch. Sau khi chị L rút vốn không hùn tiền mua bán sầu riêng, bà và chị L không có gặp nhau để lấy lại giấy nợ chị L đang giữ. Chị L không đến gặp bà đòi nợ bà lần nào cả, bà không có đóng lãi lần nào cho chị L cả. Bà không có nợ tiền của chị L, bà không đồng ý trả theo yêu cầu của chị L.

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm 51/2022/DS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2022, của Tòa án nhân dân Huyện D, tỉnh Tây Ninh, quyết định:

Căn cứ vào: Các Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Buộc bà Phạm Thị S có trách nhiệm trả cho chị Nguyễn Thị Thúy L số tiền 165.640.000 (Một trăm sáu mươi lăm triệu sáu trăm bốn mươi nghìn) đồng, bao gồm: Nợ gốc 123.000.000 đồng và tiền lãi 42.640.000 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ chậm thi hành và quyền kháng cáo của các đương sự.

* Nội dung kháng cáo: ngày 08-8-2022, bị đơn bà Phạm Thị S có đơn kháng cáo đối với Bản án Dân sự sơ thẩm 51/2022/DS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2022, của Tòa án nhân dân Huyện D, tỉnh Tây Ninh; yêu cầu xét xử lại vụ án, bà không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn.

Ý kiến Kiểm sát viên:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa phúc thẩm dân sự.

- Về việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng: đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa.

- Về nội dung: không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bà S thừa nhận Giấy mượn tiền ngày 22-9-2018 là do bà viết. Nhưng lời trình bày của bà không thống nhất về mục đích viết giấy mượn tiền. Có khi bà cho rằng bà viết giấy mượn tiền để chị L làm tin đi vay tiền người khác để hùn vốn mua bán sầu riêng với bà; có khi bà cho rằng bà đã trả tiền đủ cho chị L, nhưng do tin tưởng nên bà đã không nhận lại giấy nợ. Tuy nhiên, đối chiếu với các tài liệu chứng cứ bà cung cấp không có tài liệu chứng cứ nào thể hiện năm 2018 bà và chị L có hùn mua bán sầu riêng. Việc bà S cho rằng bà viết giấy mượn tiền để chị L làm tin vay tiền của người khác là không có cơ sở. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà S có nghĩa vụ thanh toán cho chị L 123.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi theo quy định của pháp luật là có căn cứ. Bà S kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh. Do đó kháng cáo của bà không có cơ sở chấp nhận; giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị nghị của Kiểm sát viên.

[2] Về án phí phúc thẩm: bà S phải chịu án phí phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận theo quy định tại Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn; giữ nguyên Bản án Dân sự sơ thẩm số 51/2022/DS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2022, của Tòa án nhân dân Huyện D, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ vào: Các Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy L đối với bà Phạm Thị S về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bà Phạm Thị S có trách nhiệm trả cho chị Nguyễn Thị Thúy L số tiền 165.640.000 (Một trăm sáu mươi lăm triệu sáu trăm bốn mươi nghìn) đồng, bao gồm: Nợ gốc 123.000.000 đồng và tiền lãi 42.640.000 đồng.

2. Kể từ tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về chi phí trưng cầu giám định: Bà Phạm Thị S phải chịu tiền chi phí trưng cầu giám định là 2.040.000 (Hai triệu không trăm bốn mươi nghìn) đồng; bà S đã nộp đủ.

4. Về án phí sơ thẩm:

Bà Phạm Thị S phải chịu là 8.282.000 (Tám triệu hai trăm tám mươi hai nghìn) đồng.

Chị Nguyễn Thị Thúy L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho chị L 3.075.000 (Ba triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005256 ngày 09-11-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện D, tỉnh Tây Ninh.

5. Án phí dân sự phúc thẩm: bà Phạm Thị S phải chịu 300.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm bà S đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007546, ngày 25-02-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận bà S đã nộp xong khoản tiền này.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ