vanban.org

Bản án 298/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 16/12/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/12/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh T và Trương Văn Đ;

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 81/2021/HS-ST ngày 28-4-2021 của Tòa án nhân dân huyện L. Tội danh và hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Các bị cáo Trương Văn Đ và Nguyễn Thanh T phạm tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh T và Trương Văn Đ;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 298/2021/HS-PT
Ngày 16 - 12 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành;

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Xuân Quang;

Ông Dương Lê Bửu Thiện.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 215/2021/TLPT-HS ngày 09 tháng 6 năm 2021 đối với các bị cáo Nguyễn Thanh T và Trương Văn Đ; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 81/2021/HS-ST ngày 28-4-2021 của Tòa án nhân dân huyện L.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Thanh T, sinh năm 1989 tại Quảng Nam; Giấy chứng minh nhân dân số: 27190890x, do Công an tỉnh Đồng Nai cấp ngày 17-5-2019; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Ấp P, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Võ Thị S; có vợ tên Lê Hoàng Phương T và có 01 con sinh năm 2020; tiền án: Không; tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 59/QĐ-XPHC ngày 28/3/2020, bị Công an xã B xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (đã nộp phạt xong); hiện nay, bị cáo không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn; vắng mặt tại phiên tòa.

2. Trương Văn Đ, sinh năm 1977 tại Đồng Nai; Giấy chứng minh nhân dân số: 27166676x, do Công an tỉnh Đồng Nai cấp ngày 30-8-2013; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Ấp P, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn P (đã chết) và bà Phạm Thị H (đã chết); có vợ tên Đoàn Thị P và có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 62/QĐ-XPHC ngày 28/3/2020, bị Công an xã B xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (đã nộp phạt xong); hiện nay, bị cáo không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn; vắng mặt tại phiên tòa.

- Ngoài ra, vụ án còn có bị cáo Đỗ Văn T, không có kháng cáo, kháng nghị, Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Lúc 11 giờ 10 phút ngày 07/8/2020, tại quán cà phê “Cô Nhãn” do bà Đỗ Thị N làm chủ, tại Ấp P, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai, Công an xã B phát hiện, lập biên bản sự việc Lê Nguyên V, Trương Văn Đ, Nguyễn Thanh T và Đỗ Văn T, đang đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bài phỏm thắng thua bằng tiền. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 560.000 đồng và 03 bộ bài tây 52 lá. Thu giữ trên người các bị cáo số tiền sử dụng vào việc đánh bạc gồm: V 3.240.000 đồng, T 6.064.000 đồng, Đ 2.865.000 đồng và T 938.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định: Lúc 08 giờ 45 phút ngày 07/8/2020, V, T, Đ và T, đến quán cà phê “Cô Nhãn” uống cà phê và rủ nhau đánh bài phỏm thắng thua bằng tiền. Mỗi ván người về nhất sẽ thắng số tiền của ba người còn lại, cụ thể thua nhì 20.000 đồng, thua ba 40.000 đồng và thua chót 60.000 đồng. Nếu không có phỏm (cháy) thì thua 80.000 đồng, người nào bị ăn ván bài thứ nhất (gà) thua 20.000 đồng, lá thứ hai thua 40.000 đồng và lá thứ ba thua 60.000 đồng.

Lê Nguyên V đem theo số tiền 2.500.000 đồng để sử dụng đánh bạc, khi bị bắt quả tang V thắng 740.000 đồng, thu giữ của V tổng số tiền 3.240.000 đồng.

Đỗ Văn T mang theo số tiền 568.000 đồng để sử dụng đánh bạc; khi bị bắt quả tang T thắng 370.000 đồng, thu giữ của T tổng số tiền 938.000 đồng.

Nguyễn Thanh T mang theo số tiền 6.304.000 đồng để sử dụng đánh bạc; khi bị bắt quả tang số tiền 240.000 đồng còn ở chiếu bạc, thu giữ trên người T tổng số tiền 6.064.000 đồng.

Trương Văn Đ mang theo số tiền 3.205.000 đồng để sử dụng đánh bạc; khi bị phát hiện Đ thua 340.000 đồng, thu giữ trên người Đ số tiền 2.865.000 đồng.

Tất cả cùng nhau đánh bạc đến 11 giờ 10 phút cùng ngày thì bị bắt quả tang như nêu trên. Tổng số tiền thu giữ trên chiếu bạc và tiền thu giữ trên người các bị cáo tham gia đánh bạc là 13.667.000 đồng.

Đối với bị cáo Lê Nguyên V đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L đã ra quyết định truy nã theo quy định pháp luật.

2. Vật chứng:

03 bộ bài tây 52 lá và số tiền 13.667.000 đồng.

3. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 81/2021/HS-ST ngày 28-4-2021 của Tòa án nhân dân huyện L, đã quyết định như sau:

- Tuyên bố các bị cáo Trương Văn Đ, Nguyễn Thanh T và Đỗ Văn T, phạm tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 07 (bảy) tháng tù.

- Xử phạt bị cáo Trương Văn Đ 06 (sáu) tháng tù.

- Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 40.000.000 đồng.

- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về biện pháp tư pháp, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.

4. Kháng cáo:

Trong thời hạn luật định, các bị cáo Nguyễn Thanh T và Trương Văn Đ kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

5. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án; xác định cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo phạm tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người và đúng tội. Hình phạt của cấp sơ thẩm đối với các bị cáo là phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Các bị cáo đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng. Ngay tại phiên tòa, 02 bị cáo vắng mặt và có nhờ 01 người xuất trình cho Hội đồng xét xử đơn xin hoãn phiên tòa vì lý do sức khỏe của cả 02 bị cáo. Xét đơn không có xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và kèm theo đơn không có bất cứ tài liệu, chứng cứ nào, để chứng minh việc hoãn phiên tòa là có lý do chính đáng. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về tội danh:

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về kháng cáo:

3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tại cấp sơ thẩm: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Áp dụng cho các bị cáo điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thanh T cung cấp đơn được chính quyền địa phương xác nhận, thể hiện bị cáo là lao động chính và hoàn cảnh khó khăn. Áp dụng cho bị cáo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

3.3. Về hình phạt: Mặc dù, bị cáo Nguyễn Thanh T có tình tiết mới nêu trên, nhưng với nhân thân của các bị cáo, việc cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo mức án như trên là đã xem xét và giảm nhẹ; do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo.

Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Chấp nhận quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1, 2 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh T và Trương Văn Đ;

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 81/2021/HS-ST ngày 28-4-2021 của Tòa án nhân dân huyện L.

1. Tội danh và hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày người bị kết án Nguyễn Thanh T vào cơ sở giam giữ chấp hành án phạt tù.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Trương Văn Đ 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày người bị kết án Trương Văn Đ vào cơ sở giam giữ chấp hành án phạt tù.

2. Về án phí:

Các bị cáo Nguyễn Thanh T và Trương Văn Đ, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Quyết định của bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Đỗ Văn T, biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng và quyết định về án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ