- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Lại Xuân T - Bùi Huy C"
- Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; Điều 267 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! !THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! !!!!!!!!!!!!!!!!!Độc!lập!–!Tự!do!–!Hạnh!phúc! |
Bản án số: 298/2018/DS-PT!
Ngày: 22/3/2018
V/v Yêu cầu bồi thường thiệt hại về
danh dự nhân phẩm.
NHÂN!DANH
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nhung!
Các Thẩm phán: 1. Bà Phạm Thị Thảo
2.!Ông Uông Văn Tuấn!
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà
Võ Thị Vĩnh Hưng – Kiểm sát viên.
Ngày 22/3/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 686/2017/TLPT-DS ngày 29 tháng 11
năm 2017 về ‘‘Yêu cầu bồi thường thiệt hại về danh dự nhân phẩm’’.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 521/2017/DS-ST ngày 24/10/2017 của Tòa án
nhân dân Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 713/2018/QĐPT-DS ngày 26/02/2018
giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lại Xuân T, sinh năm 1952 (Có mặt).
Địa chỉ: 206/15/31, tổ 14, khu phố 3, phường H, Quận M, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Có Luật sư Trần Văn A – Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước – Bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho ông T.
Bị đơn: Ông Bùi Huy C, sinh năm 1948 (Vắng mặt).
Địa chỉ: 372 đường X, tổ 14, khu phố 4, phường H, Quận M, Thành phố Hồ Chí
Minh.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
1/ Tại đơn khởi kiện ngày 13 tháng 11 năm 2015, các biên bản hòa giải, biên
bản làm việc, nguyên đơn ông Lại Xuân T trình bày: Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, cựu chiến binh, hiện đang sinh hoạt tại chi hội Cựu chiến binh khu phố 3, phường H, Quận M. Ngày 22 tháng 8 năm 2013, tại cuộc họp sinh hoạt thường kỳ của chi hội Cựu chiến binh khu phố 3, ông Bùi Huy C là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường H, Quận M đến tham dự và phát biểu. Trong bài phát biểu, ông C đã có hành vi vu khống, làm nhục ông T bằng cách vu cho ông T phạm 7 tội. Sau khi vu khống, ông C không nói rõ 7 tội đó là gì và tự ý bỏ về khi cuộc họp chưa kết thúc.
Việc ông C vô cớ vu khống ông phạm 7 tội khiến ông cảm thấy bị xúc phạm
danh dự, nhân phẩm nghiêm trọng. Ông cảm thấy mặc cảm với các đồng chí trong Đảng, trong hội Cựu chiến binh và với bạn bè, gia đình mặc dù trước nay ông là một người luôn sống tốt và tuân thủ pháp luật. Việc này khiến ông suy nghĩ nhiều dẫn đến bị rối loạn tâm thần, phải nhập viện để điều trị. Vợ ông sau khi nghe ông bị vu khống, không hiểu rõ sự tình, đã bỏ về nhà cha mẹ đẻ khiến tình cảm gia đình ông bị xào xáo. Ông đã có khiếu nại việc này lên Hội Cựu chiến binh Quận M và Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Quận M cũng đã có Thông báo số 212/TB-CCB ngày 14 tháng 9 năm 2015 về việc ông C sử dụng từ ngữ không chính xác gây hiểu lầm và việc ông C xin lỗi ông T tại chi hội Cựu chiến binh khu phố 3, phường H.
Tại Biên bản hòa giải ngày 07 tháng 3 năm 2016 của Tòa án nhân dân Quận M,
ông C có thừa nhận đã nói ông phạm 7 tội trong cuộc họp chi hội Cựu chiến binh khu phố 3. Ông C cũng cam kết là sẽ công khai xin lỗi ông tại cuộc họp chi hội Cựu chiến binh khu phố 3 vào ngày 22 tháng 3 năm 2016. Tuy nhiên, cuộc họp đã được đẩy lên sớm hơn vào ngày 08 tháng 3 năm 2016 và bản thân ông T lại không tham dự cuộc họp này, do đó ông vẫn chưa nghe được lời công khai xin lỗi của ông C đối với mình.
Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Bùi Huy C phải công khai xin lỗi
ông trước cuộc họp chi hội Cựu chiến binh khu phố 3, phường H, Quận M. Đồng thời ông T yêu cầu ông C phải bồi thường tổn thất về tinh thần cho ông với mức 11.500.000 (mười một triệu năm trăm nghìn) đồng, tương ứng 10 mức lương cơ bản, mỗi tháng 1.150.000 đồng. Tại phiên tòa, ông T yêu cầu ông C phải bồi thường tổn thất về tinh thần cho ông với mức 13.000.000 (mười ba triệu) đồng, tương ứng 10 mức lương cơ bản, mỗi tháng 1.300.000 đồng.
2/ Tại các bản tự khai, biên bản hòa giải, bị đơn ông Bùi Huy C trình bày: Ông
là Chủ tịch hội Cựu chiến binh phường H, Quận M. Ngày 22 tháng 8 năm 2013, ông có tham gia cuộc họp của chi hội Cựu chiến binh khu phố 3, phường H. Tại cuộc họp, ông có đứng lên đọc biên bản đóng góp của tổ dân phố 14, khu phố 3, phường
2
H, Quận M đối với ông Lại Xuân T. Ông có nêu ra 7 điểm chưa tốt của ông T, tuy
nhiên những điểm này là do bà con tổ dân phố đóng góp ý kiến chứ không phải ý
kiến chủ quan của ông. Ông thừa nhận lỗi của mình là đã dùng từ ngữ không chính
xác khi nói 7 điểm chưa tốt đó là 7 tội của ông T. Ông xác định ông cũng đã công
khai xin lỗi ông T, rút kinh nghiệm bản thân tại cuộc họp chi hội Cựu chiến binh khu
phố 3 vào ngày 08 tháng 3 năm 2016, tuy nhiên ông T lại không tham gia cuộc họp
này dù đã được thông báo.
Trước các yêu cầu của ông Lại Xuân T, ông đã thực hiện việc công khai xin lỗi
tại cuộc họp chi hội Cựu chiến binh khu phố 3, phường H, Quận M vào ngày 08
tháng 3 năm 2016. Còn với yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần cho ông T với
mức 11.500.000 đồng thì ông không đồng ý vì ông nhận thấy bản thân không làm gì
để gây ra những thiệt hại cho gia đình, danh dự, tinh thần và sức khỏe của ông T như
ông T đã nêu.
Tại bản án số 521/2017/DS-ST ngày 24/10/2017 của tòa án nhân dân Quận M
đã tuyên xử:
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lại Xuân T đối với ông Bùi Huy C về việc yêu
cầu ông Bùi Huy C phải bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm cho ông T với số
tiền là 13.000.000 (mười ba triệu) đồng và về yêu cầu ông Bùi Huy C phải công khai
xin lỗi ông Lại Xuân T tại chi hội Cựu chiến binh khu phố 3, phường H, Quận M,
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền và nghĩa vụ thi
hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 30/10/2018, ông Lại Xuân T có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm
521/2017/DS-ST ngày 24/10/2017 của tòa án nhân dân Quận M.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng
cáo, yêu cầu Tòa xét xử vụ án.
Ông T!trình bày nội dung kháng cáo: Ông yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, chấp
nhận yêu cầu của ông. Cụ thể: chấp nhận yêu cầu buộc ông C công khai xin lỗi ông
tại cuộc họp Hội Cựu chiến binh Khu phố và buộc bồi thường số tiền 13.000.000
đồng về danh dự, nhân phẩm.
Bị đơn ông Bùi Huy C vắng mặt tại phiên tòa.
Tại phần tranh luận: Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T trình bày:
Bản thân ông T là một Đảng viên, một cựu chiến binh, do ông C xúc phạm ông tại cuộc
họp nên đã gây ảnh hưởng tới ông, làm ông mặc cảm, gây tổn thương về tinh thần và phải
điều trị tại bệnh viện. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông T, buộc
ông C xin lỗi công khai và bồi thường số tiền 13.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
3
Về tố tụng: Toà cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, các đương sự
được thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ đơn kháng cáo và thời hạn đóng án phí ông T trong thời hạn luật định nên có cơ sở xem xét về hình thức.
Về nội dung kháng cáo: Hành vi của ông C là không trái pháp luật, ông T kháng
cáo buộc ông C xin lỗi thì ông C đã tự nguyện công khai xin lỗi. Ông T cũng không chứng minh được hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả của hành vi lời nói và bệnh tình của ông T. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T, y bản án sơ thẩm.
!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN!
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa
và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo và thời hạn đóng tạm ứng án phí của ông T làm
trong thời hạn luật định nên có cơ sở xem xét về hình thức.
Xét nội dung kháng cáo của ông T, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Ông Bùi Huy C với vai trò là chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường H, Quận M
có tham dự cuộc họp sinh hoạt thường kỳ của Chi hội Cựu chiến binh Khu phố 3 vào ngày 22/08/2013. Tại cuộc họp này, ông có tóm tắt ý kiến của bà con khu phố đóng góp cho ông T bởi ông T cũng là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Qua xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ, thể hiện ông C chỉ dùng từ ngữ chưa
chính xác khi phát biểu trong cuộc họp, bản thân ông C cũng đã tự nguyện công khai xin lỗi ông T tại cuộc họp cựu chiến binh khu phố vào ngày 08/03/2016. Mặc dù đã được thông báo và mời tham dự cuộc họp này nhưng ông T đã không tham gia họp. Do đó không thể vì lý do này mà buộc ông C công khai xin lỗi. Bản thân ông C với tư cách là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Phường có tham gia nhắc nhở, góp ý các thành viên cũng là lẽ bình thường. Hành vi của ông C không vi phạm pháp luật.
Ông T có trình bày vì hành vi của ông C mà gia đình ông mâu thuẫn, ông bệnh
tật ốm đau phải vào bệnh viện. Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi lỡ lời của ông C không liên quan đến cuộc sống hôn nhân của ông T và bệnh tình của ông. Bởi cuộc họp diễn ra vào ngày 22/08/2013 nhưng cuối năm 2014 ông T mới đi nằm viện. Do đó, hành vi của ông C là không trái pháp luật, không có lỗi, cũng không có mối liên hệ giữa hành vi và hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa lời nói và việc ông T đi nằm viện. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T cũng không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu này. Do đó, Hội đồng xét xử đồng ý với ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, không chấp nhận đơn kháng cáo của ông T, y bản án sơ thẩm.
4
Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị nên giữ nguyên.
Án phí dân sự phúc thẩm: Do đơn kháng cáo của ông T không được chấp nhận
nên án phí dân sự phúc thẩm ông T phải chịu là 300.000 đồng. Được khấu trừ vào
tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0034695 ngày 02/11/2017 của Chi Cục
Thi hành án Dân sự Quận M. Ông T đã đóng đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH!
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 604 và 611 Bộ luật dân sự năm 2005;
Căn cứ vào các Điều 267 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27 tháng
02 năm 2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Lại Xuân T. Y bản án dân sự sơ
thẩm.
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lại Xuân T đối với ông Bùi Huy C về việc yêu
cầu ông Bùi Huy C phải bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm cho ông T với số
tiền là 13.000.000 (mười ba triệu) đồng và về yêu cầu ông Bùi Huy C phải công khai
xin lỗi ông Lại Xuân T tại chi hội Cựu chiến binh Khu phố 3, Phường H, Quận M.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lại Xuân T được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Bùi Huy C không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Do đơn kháng cáo của ông T không được chấp
nhận nên án phí dân sự phúc thẩm ông T phải chịu là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
Được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0034695 ngày
02/11/2017 của Chi Cục Thi hành án Dân sự Quận M. Ông T đã đóng đủ án phí dân
sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM
5
| Nơi nhận: - TAND TC - TAND CC tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Chi cục THADS Q.12; - TAND Q.12; - Các đương sự; - Lưu: HS, VT (T/20).! | THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! ! ! ! ! ! ! Phạm!Thị!Nhung! 6 |