- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Văn Huy phạm tội hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lƣu Văn H phạm Tội hủy hoại tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 298/2017/HS-ST Ngày 16-11-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm;
2. Ông Dƣơng Thanh Quý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hà - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 317/2017/HSST ngày 23 tháng 10 năm 2017 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 308/2017/HSST-QĐ ngày 06 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:
Lƣu Văn H, sinh năm 1979 tại tỉnh Thái Bình; thƣờng trú: 28/6/1A khu phố 3, phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lƣu Văn T, sinh năm 1954 và bà Vũ Thị H, sinh năm 1952; vợ Trần Thanh Nga N, sinh năm 1979; có 01 con sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/8/2017, ngày 16/8/2017 đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Anh Phạm Xuân T, sinh năm 1987; thƣờng trú: 270 khu phố 3, phƣờng T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Dƣơng Khắc C; sinh năm 1997; thƣờng trú: Thôn 3, xã C, huyện C, tỉnh T; chỗ ở: Nhà trọ cô Út, khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
2. Anh Mai Hoàng M; sinh năm 1987; thƣờng trú: ấp H; xã H, huyện P, tỉnh A; chỗ ở: Nhà trọ C, khu phố C, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Lƣu Văn H có quen biết với Phạm Xuân T, do mâu thuẫn trong việc kinh doanh nên cả hai không còn qua lại với nhau. Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 01/8/2017, H điều khiển xe mô tô biển số 59X2 - 930.78 đến cửa hàng vật liệu xây dựng M thuộc khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng thì nhìn thấy T từ trong cửa hàng vật liệu xây dựng đi ra ngoài. Thấy vậy, H xông vào dùng tay và chân đánh T nhƣng đƣợc mọi ngƣời can ngăn. Sau đó, Huy bỏ về đƣợc khoảng 200 mét thì quay lại cầm trên tay 01 cục đá bê tông kích thức khoảng 3x5cm, khi còn cách xe ôtô khoảng 20m, H ném thẳng cục đá bê tông vào bên phải kính chắn gió phía trƣớc xe ô tô biển số 60A - 290.82 của anh Phạm Xuân T đang dựng ở cửa hàng vật liệu xây dựng M làm bể kính rồi bỏ chạy thoát. Cùng ngày anh Phạm Xuân T đến Công an phƣờng Tân Đông Hiệp trình báo về hành vi hủy hoại tài sản của Lƣu Văn H. Ngày 07/8/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra Lệnh bắt khẩn cấp đối với Lƣu Văn H về hành vi Hủy hoại tài sản.
Theo kết luận định giá số 198/BB.ĐG ngày 15/8/2017 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An kết luận: Tài sản bị hủy hoại là kính chắn gió phía trƣớc của xe ô tô hiệu BMW - 320i, biển số 60A - 290.82 có trị giá 18.000.000 đồng.
Đối với 01 cục đá bê tông kích thƣớc khoảng 3x5cm do Lƣu Văn H sử dụng vào việc phạm tội, hiện không thu hồi đƣợc nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An không đề cập xử lý.
Về phần dân sự: Bị cáo Lƣu Văn H đã bồi thƣờng thiệt hại cho anh Phạm Xuân T số tiền 20.000.000 đồng, anh T không có yêu cầu bồi thƣờng gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.
Tại cáo trạng số 306/QĐ - KSĐT ngày 20 tháng 10 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Lƣu Văn H về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 143; điểm b, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 07 tháng đến 10 tháng tù.
Tại phiên tòa, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; ngƣời bị hại, cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Lƣu Văn H đã thực hiện hành vi dùng cục đá bê tông ném vào tấm kính chắn gió phía trƣớc xe ôtô BMW 320i – biển số 60A -290.82 của ngƣời bị hại Phạm Xuân T làm tấm kính bị vỡ, trị giá tấm kính chắn gió là 18.000.000đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự thì “Ngƣời nào hủy hoại hoặc cố ý làm hƣ hỏng tài sản của ngƣời khác gây thiệt hại từ hai triệu đồng đến dƣới năm mƣơi triệu đồng hoặc dƣới hai triệu đồng nhƣng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chƣa đƣợc xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Nhƣ vậy, hành vi trên đây của bị cáo hủy hoại tài sản của ngƣời bị hại có trị giá 18.000.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội hủy hoại tài sản. Cáo trạng số 306/QĐ - KSĐT ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của ngƣời bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời đã thành niên nhận thức rõ hành vi hủy hoại tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã bồi thƣờng cho ngƣời bị hại; ngƣời bị hại có đơn bãi nại và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nghề nghiệp ổn định, nhất thời phạm tội, có nhân thân tốt thể hiện chƣa có tiền án, tiền sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lƣu Văn H đã bồi thƣờng cho anh Phạm Xuân T 20.000.000đồng, anh Trƣờng không có yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng không đặt ra xem xét.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt là phù hợp. Tuy nhiên, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt tù là chƣa phù hợp, bởi lẽ xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, trong thời gian bị cáo đƣợc tại ngoại luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nƣớc và địa phƣơng. Vì vậy, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian cũng không ảnh hƣởng đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn thị xã Dĩ An. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có điều kiện cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo dƣới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, Hội đồng xét xử còn áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “ngƣời bị hại có đơn bãi nại và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo” đƣợc quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 1, 2 điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lƣu Văn H phạm Tội hủy hoại tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 143; điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lƣu Văn H 09 (chín) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mƣời tám) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trƣờng hợp ngƣời đang chấp hành thời gian thử thách thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
2. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lƣu Văn H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong ha ̣n 15 (mƣời lăm) ngày, kể tƣ̀ ngày tuyên án . Ngƣời bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Bị cáo (01); - Ngƣời bị hại (01); - VKSND thị xã Dĩ An (01); - Công an thị xã Dĩ An (02); - Trại tạm giam CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - Chi cục THADS thị xã Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01); - UBND phƣờng Linh Chiểu, quận Thủ Đức (01); - Phòng PV 27 CA tỉnh BD (01); - Phòng PC 81 CA tỉnh BD (01); - Lƣu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thắm |