- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Anh T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 297/2026/HNGĐ-ST Ngày 14-8-2026 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Ngoan.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Thanh Nhanh.
Bà Trần Thúy Kiều.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tiêu Thanh Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Dương Hồng Thủy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 307/2026/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 646/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trịnh Anh T, sinh ngày 02/9/1998, căn cước số xxxxxxxxxxxx. Địa chỉ: Ấp C, xã L, thành phố Cần Thơ (vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh H, sinh ngày 20/7/1994, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx. Địa chỉ: Ấp C, xã T, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 01 tháng 4 năm 2026, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trịnh Anh T trình bày:
Về hôn nhân: Chị Trịnh Anh T và anh Nguyễn Thanh H kết hôn vào năm 2023, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Thời gian đầu kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 01/2026 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, anh chị ly thân từ tháng 01/2026 cho đến nay. Nay tình cảm không còn, chị T yêu cầu ly hôn với anh H; về con chung: Trong thời gian chung sống chị T và anh H có một người con chung là Nguyễn Trịnh Vĩnh H1, sinh ngày 28/9/2023, hiện cháu H1 đang sống chung với chị T. Chị T yêu cầu nuôi con chung là Nguyễn Trịnh Vĩnh H1, sinh ngày 28/9/2023 cho đến khi cháu H1 thành niên, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: trong thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Thanh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ: Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa đến hai lần mà vẫn vắng mặt không có lý do, anh H không gửi văn bản nêu ý kiến đối với các yêu cầu của nguyên đơn cho Tòa án. Tại phiên tòa anh H vắng mặt, nên không có ý kiến trình bày.
- Nguyên đơn đã nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ: Giấy chứng kết hôn số 108, do Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ) cấp, đăng ký kết hôn vào ngày 25/8/2023, họ và tên vợ Trịnh Anh T, sinh ngày 02/9/1998 và họ và tên chồng Nguyễn Thanh H, sinh ngày 20/7/1994 (bản chính); Giấy khai sinh số 424, họ và tên Nguyễn Trịnh Vĩnh H1, sinh ngày 28/9/2023, họ và tên mẹ Trịnh Anh T, họ và tên cha Nguyễn Thanh H, đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ), ngày đăng ký 09/10/2023 (bản chứng thực). Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn đã nộp được cơ quan có thẩm quyền cấp nên hợp pháp, đây là các tình tiết sự kiện không phải chứng minh phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án: Kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về hôn nhân: Xử cho chị T ly hôn với anh H; về con chung: Giao con chung là Nguyễn Trịnh Vĩnh H1, sinh ngày 28/9/2023 cho chị T nuôi dưỡng cho đến khi thành niên, anh H không cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật; về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu, không xem xét; buộc nguyên đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn đang cư trú tại ấp C, xã T, thành phố Cần Thơ, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ theo Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
[2] Quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn chị Trịnh Anh T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, yêu cầu nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Trịnh Anh T vắng mặt có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm đến lần thứ 2 mà vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Xét yêu cầu ly hôn của chị T. Chị T và anh H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị có thời gian chung sống hạnh phúc, đến tháng 01/2026 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn sâu đậm. Chị T và anh H không chung sống cùng nhau từ tháng 01/2026 cho đến nay. Từ đó đến nay, anh chị không có liên hệ để hàn gắn tình cảm nhằm đoàn tụ xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc. Xét hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên yêu cầu ly hôn của chị T được chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Xét yêu cầu của chị T về con chung. Cháu Nguyễn Trịnh Vĩnh H1, sinh ngày 28/9/2023 hiện đang sống chung với chị T, chị T đã chăm sóc, nuôi dưỡng tốt cháu H1. Xét việc cháu H1 sống với chị T đã ổn định, nên cần tiếp tục giao cháu H1 cho chị T nuôi dưỡng để không làm thay đổi môi trường sống và học tập của cháu H1. Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 và khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu Nguyễn Trịnh Vĩnh H1, sinh ngày 28/9/2023 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu H1 thành niên. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho anh H không ai được cản trở. Anh H không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con của chị T. Về cấp dưỡng nuôi con, chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng, anh H không có ý kiến gì về cấp dưỡng nuôi con, nên anh H không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu giải quyết, anh H không có ý kiến đối với yêu cầu của chị T, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Như đã phân tích ở trên đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Thanh H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Chị T phải chịu án phí theo Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 5 và khoản Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào 1 Điều 28, Điều 35 và khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1 và khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Anh T.
1. Về hôn nhân: Cho chị Trịnh Anh T và anh Nguyễn Thanh H ly hôn.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trịnh Vĩnh H1 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu H1 thành niên. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho anh H không ai được cản trở. Anh H không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con của chị T. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh H không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu, anh H không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung, nên không đặt ra xem xét.
4. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Thanh H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Chị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, nhưng chị T được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006426 ngày 08 tháng 4 năm 2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, chị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự đều vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Cần Thơ; - VKSND khu vực 9 – Cần Thơ; - THADS thành phố Cần Thơ; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Ngoan |