- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lù Văn N (TTTPCMT) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lù Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 297/2023/HS-ST Ngày: 23-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Bang.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Bảo
Bà Nguyễn Thị Minh Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 283/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 283/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lù Văn N, sinh ngày 26 tháng 11 năm 1995; nơi sinh: tỉnh Lai Châu; nơi cư trú: Bản L, xã L, huyện N, tỉnh Lai Châu; số căn cước công dân: 012095005967; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; con ông Lù Văn P và bà Lường Thị A; vợ, con: Không; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 05-5-2022, Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Lai Châu ra quyết định về việc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng (chấp hành xong ngày 09-5-2023); bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17-8-2023, chuyển tạm giam từ ngày 26-8-2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
Ông Trần Văn C
Ông Trần Lê B
(Không triệu tập đến phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 17-8-2023, tổ công tác Công an phường B, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa nhà số nhà 185 V, phường C, thành phố N phát hiện Lù Văn N đang điều khiển xe máy biển kiểm soát 18S4 - 0608 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. N tự giác giao nộp từ túi quần bên trái 01 gói ni lông màu đen, bên trong có 2 gói giấy bạc màu trắng đều chứa chất bột dạng cục màu trắng (N khai là Heroine mua để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lù Văn N. Ngoài ra còn tạm giữ của N 01 xe máy biển kiểm soát 18S4 - 0608, đã cũ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã ra quyết định trưng cầu giám định vật chứng thu giữ của Lù Văn N: Bản kết luận giám định số 1287/KL-KTHS ngày 23-8-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 02 gói giấy bạc trắng (02 gói giấy bạc màu trắng được gói trong 01 gói ni lông màu đen), được niêm phong gửi giám định là đều ma túy. Loại ma túy: Heroine. Tổng khối lượng mẫu: 0,172 gam.
Tại cơ quan điều tra, Lù Văn N khai nhận: Ngày 14-8-2023, N từ nhà xuống công trường thuộc xã N, huyện N, tỉnh Nam Định làm thuê phụ xây và ở tại lán của công trường. Khoảng 11 giờ ngày 17-8-2023, N điều khiển xe máy biển kiểm soát 18S4 - 0608 từ nơi làm việc đi đến khu vực gầm cầu Đ, thành phố N gặp một người phụ nữ (không rõ lai lịch, địa chỉ), N hỏi mua 200.000 đồng Heroine. Người phụ nữ nhận tiền, đi đâu đó khoảng 5 phút rồi quay lại đưa cho N 01 gói ni lông màu đen và bảo bên trong có 02 gói Heroine. N cất gói Heroine vào túi quần bên trái đang mặc rồi điều khiển xe máy đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Bản cáo trạng số 299/CT-VKSND-TPNĐ ngày 06-11-2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Lù Văn N tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lù Văn N đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lù Văn N về tội danh, điều luật như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Lù Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt chính: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lù Văn N từ 21 tháng tù đến 24 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lù Văn N.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo Lù Văn N.
- Về án phí: Buộc bị cáo Lù Văn N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lù Văn N nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lù Văn N không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Lù Văn N trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 17-8-2023; Biên bản thu giữ vật chứng ngày 17-8-2023; Bản kết luận giám định số 1287/KL-KTHS ngày 23-8-2023của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 17-8-2023, tại khu vực trước cửa số nhà 185 V, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định, Lù Văn N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,172 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo Lù Văn N là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,172 gam. Vì vậy bị cáo Lù Văn N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo Lù Văn N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Lù Văn N không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Lù Văn N là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N; bản thân bị cáo có nhân thân xấu, có một tiền sự bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng (chấp hành xong ngày 09-5-2023) nhưng không lấy đó làm bài học, tu dưỡng bản thân nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung đã truy tố, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Lù Văn N không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với đối tượng đã bán ma tuý cho bị cáo Lù Văn N hiện tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố N tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 18S4 - 0608 đã cũ là tài sản của anh Lù Văn K, sinh năm 1988, trú tại: Bản L, xã L, huyện N, tỉnh Lai Châu (là anh trai N); anh K không biết N mượn xe đi mua ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại xe cho anhK là đúng quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
Số ma túy thu giữ của bị cáo Lù Văn N là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu tiêu hủy.
Về án phí:
Bị cáo Lù Văn N bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lù Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Lù Văn N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 17-8-2023.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy gói ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 1287/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13-11-2023).
3. Án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015;
Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo Lù Văn N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo Lù Văn N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật thi hành án dân sự: Bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Toà án nhân dân tỉnh Nam Định; - Viện kiểm sát nhân dân TP. N; - Chi cục Thi hành án dân sự TP. N; - Công an TP. N; - Lưu Hồ sơ; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Văn Bang |