vanban.org

Bản án 297/2023/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thanh H. Buộc chị Nguyễn Thị TR phải có nghĩa vụ trả cho chị Lê Thị Thanh H số tiền là 300.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền phải thi hành, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải chịu thêm khoản lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. Chị Nguyễn Thị TR phải chịu 15.000.000 đồng án p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "HANG+ TRINH"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thanh H. Buộc chị Nguyễn Thị TR phải có nghĩa vụ trả cho chị Lê Thị Thanh H số tiền là 300.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 297/2023/DSST.
Ngày 22/12/2023.
Về việc tranh chấp: “ Hợp đồng
vay tài sản” .

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Việt Chương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Nhu.

2. Ông Trần Trung Nhân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè.

Ngày 22/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 506/TLST-DS ngày 11/10/2023 về việc tranh chấp “ Hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 319/2023/QĐXX-ST ngày 07/12/2023 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thanh H, sinh năm 1971. Nơi cư trú: tổ 12, ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.( có mặt).

2/ Bị đơn: Chị Nguyễn Thị TR, sinh năm 1970. Nơi cư trú: ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.( có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 27/9/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Lê Thị Thanh H trình bày:

Do quen biết nên vào ngày 03/02/2023 chị H có cho chị TR số tiền là 300.000.000 đồng, với mức lãi suất là 21.000.000 đồng / tháng với thời hạn là 03 tháng, hai bên có làm giấy biên nhận và chị TR có ký tên vào biên nhận. Khi đến hạn chị TR không trả chị có đòi nhiều lần nhưng chị TR cũng không thực hiện và kéo dài cho đến nay.

Nay chị H khởi kiện yêu cầu chị TR phải trả cho chị số tiền vay là 300.000.000 đồng, làm một lần kể từ khi án có hiệu lực pháp luật và không yêu cầu trả lãi.

Bị đơn chị Nguyễn Thị TR trình bày: Vào ngày 03/02/2023 chị có vay của chị H số tiền 300.000.000 đồng như chị H trình bày là đúng và có trả được 04 tháng lãi thì ngưng. Nay chị đồng ý trả số tiền 300.000.000 đồng cho chị H nhưng xin trả dần mỗi tháng là 3.000.000 đồng, còn trả theo yêu cầu của chị H thì chị không có khả năng vì hoàn cảnh kinh tế gia đình gặp khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật Hội đồng xét xử có nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thanh H yêu cầu chị Nguyễn Thị TR trả số tiền vay là 300.000.000 đồng nên xác định đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự theo khoản 3 điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ vào địa chỉ sinh sống của chị Nguyễn Thị TR ở ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân huyện Cái Bè theo quy định tại khoản 1 điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quan hệ tranh chấp được xác định là “Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại điều 463 Bộ luật dân sự.

.Về nội dung:

2.1. Căn cứ vào đơn khởi kiện, bản tự khai của đương sự và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn chị Lê Thị Thanh H có cho chị Nguyễn Thị TR vay số tiền là 300.000.000 đồng và chị TR có làm giấy biên nhận nợ và ký tên . Phía chị TR cũng thừa nhận còn nợ chị H số tiền 300.000.000 đồng, nhưng đến hạn chị TR không trả và kéo dài cho đến nay. Nay chị H khởi kiện yêu cầu chị TR trả số tiền 300.000.000 đồng là có căn cứ. Căn cứ điều 463 và điều 466 Bộ luật dân sự Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H.

2.3.Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị TR thừa nhận vào ngày 03/02/2023 chị có vay của chị H số tiền 300.000.000 đồng. Nay chị đồng ý trả số tiền 300.000.000 đồng cho chị H nhưng xin trả dần mỗi tháng là 3.000.000 đồng, còn trả theo yêu cầu của chị H thì chị không có khả năng vì hoàn cảnh kinh tế gia đình gặp khó khăn, nhưng không được phía chị H chấp nhận. Xét thấy số tiền trên chị TR chiếm dụng đã lâu, nay xin trả dần là cố tình kéo dài thời gian trả nợ là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị H và trái với quy định của pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu xin trả dần của chị TR.

. Chị Nguyễn Thị TR phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH :

Áp dụng:

- Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 463 , Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự;

- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thanh H. Buộc chị Nguyễn Thị TR phải có nghĩa vụ trả cho chị Lê Thị Thanh H số tiền là 300.000.000 ( ba trăm triệu) đồng, kể từ khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền phải thi hành, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải chịu thêm khoản lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Án phí :

- Chị Nguyễn Thị TR phải chịu 15.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn lại cho chị Lê Thị Thanh H 7.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0013109 ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè.

3- Chị Lê Thị Thanh H và chị Nguyễn Thị TR có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ