- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 297/2020/HSST Ngày: 04 - 11 - 2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Ngọc Kiệt.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Huỳnh Ngọc Sƣơng;
2. Bà Nguyễn Kim Hoa.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng T n, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương: Ông Nguyễn Văn Chiến, Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 309/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 310/2020/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1977 tại Bình Dƣơng; nơi cƣ trú: 59/24 L, tổ 24, khu 3, phƣờng P, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1950 và bà Võ Thị V, sinh năm 1951; bị cáo có chồng Nông Thái B, sinh năm 1975 và có 02 con sinh năm 1999, 2009; tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn ch n c m đi kh i nơi cƣ tr từ ngày 06/7/2020 cho đến nay, có m t.
- Bị hại: Bà Dƣơng Mộng C, sinh năm 1977 đ chết . Ngƣời đại diện theo pháp luật của bị hại: Ông Dƣơng Văn T, sinh năm 1933 và bà Dƣơng Thị Th y H, sinh năm 1999; Cùng nơi cƣ trú: Khu vực T, phƣờng T, quận T, thành phố Cần Thơ – là cha và con ruột của bị hại.
Ngƣời đại diện h p pháp của ông T và bà H: Ông Dƣơng Văn M, sinh năm 1965; nơi cƣ tr : Khu vực T, phƣờng T, quận T, thành phố Cần Thơ – là ngƣời đại diện theo ủy quyền văn bản ủy quyền ngày 03/3/2020 và 11/3/2020 , có m t.
- Ngƣời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan: Ông Nông Thái B, sinh năm 1975; nơi cƣ tr : 304, tổ 3, khu 5, phƣờng P, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có m t.
- Ngƣời làm chứng:
1. Ông Vƣơng Ngọc H, sinh năm 1981, vắng m t;
2. Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1967, vắng m t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣ c tóm tắt nhƣ sau:
Bản thân Nguyễn Thị Ngọc T có gi y phép lái xe hạng B2 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Dƣơng c p ngày 24/11/2014. Khoảng 04 giờ 45 ph t ngày 29/02/2020, T điều khiển xe ô tô nh n hiệu Toyota, màu trắng biển số 61A-109.17 lƣu thông trên đƣờng Đại lộ Bình Dƣơng Quốc lộ 13 theo hƣớng từ ng tƣ Hòa Lân đến ng tƣ Việt Hƣơng. Khi T điều khiển xe ô tô lƣu thông đến đoạn ng tƣ Đ t Thánh thuộc khu phố Hƣng Lộc, phƣờng Hƣng Định, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng do thiếu ch ý quan sát, không ch p hành chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đƣờng bộ đ cho xe vƣ t đèn đ qua ng tƣ đụng vào ngƣời bà Dƣơng Mộng C đang đi bộ qua đƣờng từ lề phải sang lề trái nơi vạch sơn kẻ dành cho ngƣời đi bộ hƣớng xe ô tô lƣu thông, dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả, bà C tử vong tại hiện trƣờng.
- Theo biên bản khám nghiệm hiện trƣờng tai nạn giao thông thể hiện:
Hiện trƣờng là đoạn đƣờng Đại lộ Bình Dƣơng gần ng tƣ Đ t Thánh thuộc khu phố Hƣng Lộc, phƣờng Hƣng Định, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Đƣờng trải nhựa phẳng và thẳng, có dải phân cách bằng bê tông cố định, ở giữa đƣờng chia thành hai chiều lƣu thông, l y phần đƣờng bên phải làm chuẩn, hƣớng từ ng tƣ Đ t Thánh về ng ba Việt Hƣơng rộng 10,50m chia làm ba làn đƣờng, làn đƣờng ngoài cùng rộng 3,60m; làn đƣờng ở giữa rộng 3,50m; làn đƣờng trong cùng rộng 3,40m.
Sau tai nạn giao thông hiện trƣờng để lại nhƣ sau: Nạn nhân Dƣơng Mộng C nằm chết trên m t đƣờng với tƣ thế nằm ngửa, đầu nạn nhân quay xéo về lề đƣờng bên phải hƣớng về ng ba Việt Hƣơng; đầu nạn nhân cách mép đƣờng bên phải là 1,00m; gót chân trái nạn nhân cách mép đƣờng bên phải là 2,00m và cách cột điện số 117 nằm trên vỉa hè bên phải là 19,30m.
Xe ô tô 07 chỗ biển số: 61A-109.17 đỗ trên m t đƣờng, đầu xe quay về hƣớng ng ba Việt Hƣơng; trục bánh trƣớc bên phải của xe ô tô cách mép đƣờng bên phải là 0,10m; trục bánh sau bên bên phải của xe cách mép đƣờng bên phải là 0,10m và cách đầu nạn nhân C là 50m.
- Kết quả khám nghiệm phƣơng tiện chiếc xe ô tô biển số: 61A-109.17: D u vết để lại trên xe ô tô biển số: 61A-109.17: Kính chắn gió bên phải bể vỡ, kích thƣớc: 0,60x0,70m; Ốp hông bên phải thụng móp, kích thƣớc: 0,50x0,23m; Cần gạt nƣớc bên phải bị g y; Ốp hông bên phải bị bung, hở; Đèn pha, đèn xi nhan bên phải bể vỡ.
- Bản kết luận giám định số 49/GĐCH-PC09 ngày 13/4/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận:
Các d u vết vải s i màu vàng, xanh bám dính trên cạnh phải kính chắn gió trƣớc, đầu bu lông chân cần gạt nƣớc kính chắn gió trƣớc và cạnh vỡ ốp kim loại góc trƣớc bên phải đầu xe ô tô biển số: 61A-109.17 phù h p với d u vết trƣ t xƣớc, rách vải s i màu vàng, xanh ở tay trái áo khoác ngoài của nạn nhân Dƣơng Mộng C.
Các d u vết trƣ t xƣớc, vỡ, móp biến dạng hở phần đầu bên phải xe ô tô phù h p và chạm với các d u vết sây sát da, bầm tụ máu, g y xƣơng chân phải, ngực, bụng, tay phải và phần đầu của nạn nhân Dƣơng Mộng C.
Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số: 61A-109.17 với Dƣơng Mộng C chiếu xuống m t đƣờng là phần đƣờng bên phải Quốc lộ 13 hƣớng ng tƣ Đ t Thánh về ng ba Việt Hƣơng.
Cơ chế hình thành d u vết giữa xe ô tô biển số: 61A-109.17 với nạn nhân Dƣơng Mộng C là đầu trƣớc bên phải xe ô tô va chạm vào phía trƣớc tử thi.
- Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 204/GĐPY ngày 03/3/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận:
Các d u hiệu chính qua giám định: Nhiều vết sây sát da, bầm tụ máu bên ngoài; Dập rải rác hai phổi và rốn phổi; Dập rách, đứt rời động mạch chủ ngực; Khoang màng phổi hai bên chứa khoảng 3000mg máu đông và không đông; G y hai xƣơng cẳng chân phải, g y xƣơng cánh tay trái.
Nguyên nhân chết của bị hại Dƣơng Mộng C là do đa ch n thƣơng.
Tại bản Cáo trạng số 319/CT-VKS-TA ngày 19/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đ truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đ truy tố, đánh giá tính ch t mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù, cho hƣởng án treo; thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đ bồi thƣờng cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng và tại phiên tòa ngƣời đại diện h p pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Ngƣời đại diện h p pháp của bị hại xác định, bị cáo đ bồi thƣờng cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng nên gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì khác và xin b i nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ngƣời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan ông Nông Thái B xác định: Chiếc xe ô tô biển số 61A-109.17 mà bị cáo điều khiển lƣu thông trên đƣờng gây tại nạn giao thông do ông B đứng tên Gi y chứng nhận đăng ký xe và thuộc sở hữu h p pháp của ông B nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đ trả lại chiếc xe trên cho ông B nên ông B không có yêu cầu gì trong vụ án.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thống nh t tội danh truy tố, lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục các con và chăm lo cuộc sống gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ đƣ c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết th c việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đ ng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là h p pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đ ng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đ truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù h p với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù h p với lời khai của ngƣời đại diện h p pháp của bị hại, ngƣời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan, ngƣời làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét th y có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 04 giờ 45 phút ngày 29/02/2020, Nguyễn Thị Ngọc T điều khiển xe ô tô biển số 61A-109.17 lƣu thông trên đƣờng Đại lộ Bình Dƣơng hƣớng từ ng tƣ Hòa Lân đến ng tƣ Việt Hƣơng. Khi điều khiển xe đến ng tƣ Đ t Thánh thuộc khu phố Hƣng Lộc, phƣờng Hƣng Định, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng do thiếu ch ý quan sát, không ch p hành chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đƣờng bộ nên đ va chạm vào ngƣời bà Dƣơng Mộng C đang đi bộ qua đƣờng. Hậu quả, bà C tử vong. Hành vi của bị cáo đ vi phạm khoản 1 Điều 9 và khoản 1, 4 Điều 11 Luật Giao thông đƣờng bộ năm 2008, đồng thời làm chết 01 ngƣời đ đủ yếu tố c u thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T theo tội danh, điểm, khoản, điều nêu trên là đ ng ngƣời, đ ng tội và đ ng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho x hội, bị cáo là ngƣời có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo có gi y phép lái xe theo quy định và biết rõ các quy định về trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ nhƣng không ch p hành nghiêm chỉnh, khi điều khiển xe thiếu sự quan sát và không ch p hành tín hiệu đèn giao thông. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm quy định của Nhà nƣớc về an toàn, trật tự công cộng, tƣớc đi mạng sống của ngƣời khác, gây ảnh hƣởng đến trật tự, an toàn giao thông đƣờng bộ. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng với tính ch t, mức độ hành vi phạm tội để bị cáo suy nghĩ lại hành vi phạm tội, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho x hội.
Về tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện sửa chữa, bồi thƣờng thiệt hại; bị hại có đơn xin b i nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có trình độ văn hóa th p nên hạn chế về nhận thức pháp luật. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣ c quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét th y bị cáo có nhân thân tốt và phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣ c quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nơi cƣ tr rõ ràng, để bị cáo có cơ hội lao động chăm sóc, nuôi dƣỡng con và việc không bắt bị cáo phải ch p hành hình phạt tù mà cho bị cáo hƣởng án treo không gây nguy hiểm cho x hội, không ảnh hƣởng x u đến an ninh, trật tự, an toàn x hội; đồng thời c ng đủ răn đe, giáo dục bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo đƣ c hƣởng án treo.
Mức hình phạt theo lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa là phù h p.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đ bồi thƣờng cho gia đình bị hại C với số tiền 200.000.000 đồng và tại phiên tòa ngƣời đại diện h p pháp của gia đình bị hại không có yêu cầu gì khác đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không đ t ra xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe mô tô biển số 61A-109.17, quá trình điều tra xác định chiếc xe thuộc sở hữu của ông Nông Thái B nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đ trả lại xe trên ông B là phù h p quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
- Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
- Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T 01 một 03 (ba tháng tù, cho hƣởng án treo; thời gian thử thách 02 hai năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án 04/11/2020.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T cho Ủy ban nhân dân phƣờng P, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trƣờng h p bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T thay đổi nơi cƣ tr thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣ c hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣ c hƣởng án treo phải ch p hành hình phạt tù của bản án đ cho hƣởng án treo.
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự.
Bị cáo, ngƣời đại diện h p pháp của bị hại, ngƣời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Công an thành phố Thuận An; - Chánh án để báo cáo ; - Những ngƣời tham gia tố tụng; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Ngọc Kiệt |