- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Đình T cùng đồng bọn bị xét xử về tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Hà Đình T, Đinh Thế V, Lâm Sơn H, Nguyễn Xuân H, Lê Công H, Trịnh Văn B và Nguyễn Huy D phạm “Tội đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 248 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 297/2017/HSST Ngày 15-11-2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quân Vƣơng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Văn Cƣờng
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thƣơng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Chiến, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 326/2017/HSST ngày 26 tháng 10 năm 2017 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 318/2017/HSST-QĐ ngày 03 tháng 11 năm 2017 đối với các bị cáo:
1. Hà Đình T, sinh năm 1970 tại tỉnh Hƣng Yên; thƣờng trú: Thôn T, xã T C, huyện P, tỉnh Hƣng Yên; chỗ ở hiện nay: khu phố B1, phƣờng A, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Hà Đình S và bà Nguyễn Thị M (đã chết); bị cáo có 03 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1963, nhỏ nhất sinh năm 1976; vợ tên Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; có 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09/9/2003 bị Tòa án nhân dân huyện Phù Cừ, tỉnh Hƣng Yên xử phạt 02 năm tù về “Tội cố ý gây thƣơng tích”, chấp hành xong ngày 07/12/2005, đã đƣợc xóa án tích; bị tạm giữ từ ngày 29/7/2017 đến ngày 07/8/2017 đƣợc trả tự do; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Đinh Thế V, sinh năm 1981 tại tỉnh Nghệ An; thƣờng trú: khu phố B4, phƣờng A, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Đinh Quang T (đã chết) và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1954; vợ tên Úy Thị H, sinh năm 1984; có 03 con lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2016; có 06 em ruột, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không, bị bắt tạm giam từ ngày 29/7/2017, đƣợc thay đổi biện pháp tạm giam bằng Quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn và Lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú ngày 29/8/2017; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
3. Nguyễn Xuân H, sinh năm 1966 tại tỉnh Nam Định; thƣờng trú: khu phố B4, phƣờng A, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Bảo vệ dân phố; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Đình D (đã chết) và bà Hà Thị P, sinh năm 1938; vợ tên Phạm Thị N, sinh năm 1974; có 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 1997; bị cáo có 05 anh em, lớn nhất sinh năm 1964, nhỏ nhất sinh năm 1976; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 29/7/2017 đến ngày 07/8/2017 đƣợc trả tự do; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
4. Nguyễn Huy D, sinh năm 1981, tại tỉnh Hà Tĩnh; thƣờng trú: Xóm S, xã L, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; chỗ ở hiện nay: khu phố B4, phƣờng A, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Huy Đ, sinh năm 1948 và bà Phạm Thị L, sinh năm 1952; bị cáo có 04 anh em ruột, lớn sinh năm 1971, nhỏ sinh năm 1984; vợ tên Võ Thị Hồng E, sinh năm 1982; có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 13/02/2015 bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An xử phạt 6.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, chấp hành xong ngày 16/12/2015, đã đƣợc xóa án tích; bị tạm giam từ ngày 29/7/2017, đƣợc thay đổi biện pháp tạm giam bằng Quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn và Lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú ngày 31/8/2017; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
5. Lê Công H, sinh năm 1981 tại tỉnh Nghệ An; thƣờng trú: Xóm X, xã V, thị xã M, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: khu phố B1, phƣờng A, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Lê Công V, sinh năm 1934 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1953; vợ tên Vũ Thị M, sinh năm 1983; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2015; bị cáo có 04 anh chị em ruột, lớn nhất 57 tuổi, nhỏ sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không, bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/7/2017 đến ngày 07/8/2017 đƣợc trả tự do; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
6. Trịnh Văn B (B đen), sinh năm 1975, tại tỉnh Bắc Ninh; thƣờng trú: Ấp T, xã H, huyện H, tỉnh Long An; chỗ ở hiện nay: khu phố B4, phƣờng A, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Trịnh Văn L và bà Phạm Thị N (đã chết); bị cáo có 04 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1960, nhỏ nhất sinh năm 1980; vợ tên Đặng Kim L, sinh năm 1978; có 01 con sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không, bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/8/2017, đƣợc thay đổi biện pháp tạm giam bằng Quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn và Lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú ngày 31/8/2017; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
7. Lâm Sơn H, sinh năm 1977 tại tỉnh Tây Ninh; thƣờng trú: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: khu phố B4, phƣờng A, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Lâm Văn V, sinh năm 1945 và bà Nguyễn Thị Kim S, sinh năm 1953; bị cáo có 07 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1969, nhỏ nhất sinh năm 1985; vợ tên Trần Ngọc K, sinh năm 1974; có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không, bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/7/2017 đến ngày 07/8/2017 đƣợc trả tự do; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 21 giờ ngày 29/7/2017, Hà Đình T rủ Nguyễn Huy D, Nguyễn Xuân H, Lê Công H, Trịnh Văn B chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền dƣới hình thức bài cào ba lá tại căn nhà xây dựng tạm của B ở địa chỉ 73/45, Tổ 73, khu phố Bình Đƣờng 4, phƣờng An Bình, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. B đi mua 02 bộ bài tây 52 lá và lấy một cái mền trải ra sàn nhà để cùng nhau chơi. Mỗi ván đặt cƣợc từ 50.000 đồng đến 500.000 đồng, hình thức chơi đánh bạc là mỗi ngƣời cầm cái chia cho những ngƣời cùng chơi 03 lá bài, ngƣời chơi đếm nút trên bài để so với nhà cái. Qui định 10 điểm là cao nhất, nếu ngƣời chơi thấp điểm hơn ngƣời cầm cái thì thua, nếu ngƣời chơi cao điểm hơn ngƣời cầm cái thì thắng, nếu ngƣời chơi 10 điểm sẽ đƣợc cầm cái xoay vòng. Khoảng 22 giờ cùng ngày, Lâm Sơn H và Đinh Thế V đến cùng tham gia, còn D đi về trƣớc. Khoảng 23 giờ cùng ngày, lực lƣợng Công an thị xã Dĩ An kết hợp Công an phƣờng An Bình kiểm tra bắt quả tang T, V, H (Nguyễn Xuân H), H (Lê Công H) và H (Lâm Sơn H) đang đánh bạc và thu giữ tại chiếu bạc số tiền 100.000 đồng; 02 bộ bài tây 52 lá và 01 cái mền kích thƣớc 60x80cm, riêng B bỏ chạy thoát sau đó Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Huy D và Trịnh Văn B về hành vi đánh bạc.
Qua thu thập tài liệu, chứng cứ và kết quả điều tra xác định đƣợc Hà Đình T, Đinh Thế V, Nguyễn Xuân H, Nguyễn Huy D, Lê Công H, Trịnh Văn B, Lâm Sơn H có hành vi đánh bạc, cụ thể nhƣ sau:
Hà Đình T mang theo và sử dụng 2.300.000 đồng để đánh bạc. Trong quá trình chơi thắng 100.000 đồng và T cho H (Lâm Sơn H) mƣợn 1.000.000 đồng trong số tiền sử dụng đánh bạc, khi bị bắt thu giữ trong ngƣời 1.300.000 đồng, tiền tang 100.000 đồng.
Đinh Thế V mang theo và sử dụng 2.600.000 đồng và mƣợn của D 5.000.000 đồng để đánh bạc. Trong quá trình chơi thua 6.300.000 đồng, khi bị bắt thu giữ 1.300.000 đồng.
Nguyễn Xuân H mang theo và sử dụng 1.250.000 đồng để đánh bạc. Trong quá trình chơi thắng 1.800.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trong ngƣời 3.500.000 đồng.
Nguyễn Huy D mang theo và sử dụng 1.250.000 đồng để đánh bạc. Trong quá trình chơi thắng 3.750.000 đồng và cho V mƣợn 5.000.000 đồng từ số tiền sử dụng đánh bạc và tiền thắng bạc rồi về trƣớc khi lực lƣợng công an bắt quả tang.
Lê Công H mang theo và sử dụng 900.000 đồng để đánh bạc. Trong quá trình chơi thắng 1.400.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trong ngƣời 2.300.000 đồng.
Trịnh Văn B sử dụng 400.000 đồng để đánh bạc. Trong quá trình chơi thua 50.000 đồng, khi bị lực lƣợng công an bắt quả tang Ba bỏ chạy thoát, sau đó Ba giao nộp tiền sử dụng đánh bạc 350.000 đồng.
Lâm Sơn H mang theo và sử dụng 600.000 đồng và mƣợn của T 1.000.000 đồng để đánh bạc. Trong quá trình chơi thua 700.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trong ngƣời 900.000 đồng.
Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 9.750.000 đồng (trong đó tiền thu giữ tiền sử dụng để đánh bạc trong ngƣời của Hà Đình T 1.300.000 đồng, Đinh Thế V là 1.300.000 đồng, Nguyễn Xuân H là 3.500.000 đồng, Lê Công H là 2.300.000 đồng, Trịnh Văn B là 350.000 đồng, Lâm Sơn H là 900.000 đồng và tiền tang là 100.000 đồng).
Cáo trạng số 308/QĐ– KSĐT ngày 24 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Hà Đình T, Đinh Thế V, Lâm Sơn H, Nguyễn Xuân H, Lê Công H, Trịnh Văn B và Nguyễn Huy D về “Tội đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng Điểm h, p khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 248; Điều 53 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt các bị cáo Hà Đình T và Nguyễn Huy D, mỗi bị cáo từ 08 triệu đồng đến 10 triệu đồng; đề nghị xử phạt các bị cáo Đinh Thế V, Lâm Sơn H, Nguyễn Xuân H, Lê Công H và Trịnh Văn B, mỗi bị cáo mức hình phạt từ 06 triệu đồng đến 08 triệu đồng.
Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc số tiền 9.750.000 đồng;
- Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tây 52 lá và 01 cái mền kích thƣớc 60x80cm
Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Vào khoảng 21 giờ ngày 29/7/2017 tại địa chỉ 73/45, Tổ 73, khu phố Bình Đƣờng 4, phƣờng An Bình, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng Hà Đình T, Nguyễn Xuân H, Lê Công H, Trịnh Văn B và Nguyễn Huy D chơi đánh bài bài cào ba lá thắng thua bằng tiền mỗi ván đặt số tiền từ 50.000 đồng đến 500.000 đồng. Khoảng 01 giờ sau có Đinh Thế V và Lâm Sơn H đến và cùng tham gia, đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì bị lực lƣợng công an thị xã Dĩ An kết hợp công an phƣờng An Bình phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 9.750.000 đồng.
Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt giữ ngƣời có hành vi phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đã có đủ cơ sở xác định: Hành vi của các bị cáo đánh bạc dƣới hình thức đánh bài cào thắng thua bằng tiền nhằm mục đích tƣ lợi, sát phạt lẫn nhau là nguy hiểm cho xã hội. Cáo trạng số 308/QĐ– KSĐT ngày 24 tháng 10 năm 2017 và luận tội của kiểm sát viên truy tố các bị cáo Hà Đình T, Đinh Thế V, Lâm Sơn H, Nguyễn Xuân H, Lê Công H, Trịnh Văn B và Nguyễn Huy D về “Tội đánh bạc” qui định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng, nhƣng gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng, xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Vì vậy cần xử phạt các bị cáo với mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của các bị cáo trong vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Trong vụ án có tính chất đồng phạm nhƣng là giản đơn, bị cáo T là ngƣời khởi xƣớng và cùng các bị cáo còn lại trực tiếp tham gia đánh bạc.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội; có thái độ ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng.
Về nhân thân: Các bị cáo là ngƣời lao động; chƣa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Hà Đình T đã từng bị xét xử về tội cố ý gây thƣơng tích, bị cáo Nguyễn Huy D đã từng bị xét xử về tội đánh bạc, đã đƣợc xóa án tích.
Đối với mức hình phạt nhƣ đại diện Viện kiểm sát đề nghị, xét bị cáo Hà Đình T có nhân thân đã từng bị xét xử về tội cố ý gây thƣơng tích, bị cáo Nguyễn Huy D đã từng bị xét xử về tội đánh bạc, đã đƣợc xóa án tích; xét mức hình phạt nhƣ đề nghị đối với 02 bị cáo là chƣa đủ sức răn đe giáo dục, tuy nhiên bị cáo D có thời gian bị tạm giam hơn 01 tháng, số tiền của từng bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc không lớn nên quyết định áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với 02 bị cáo, 02 bị cáo là lao động tự do nên không có cơ sở xem xét khấu trừ thu nhập theo quy định vì vậy quyết định phạt bổ sung thêm mỗi bị cáo 5.000.000 đồng là phù hợp. Đối với các bị cáo còn lại áp dụng hình phạt tiền nhƣ đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi nhƣng chƣa phù hợp với số tiền và thời gian của từng bị cáo đã tham gia. Đối với bị cáo B số tiền sử dụng đánh bạc ít hơn các bị cáo còn lại nên mức phạt tiền nhƣ đề nghị là phù hợp, các bị cáo còn lại sử dụng tiền để đánh bạc nhiều hơn nên quyết định mức phạt tiền cao hơn mức đề nghị.
Về vật chứng:
- Xét số tiền 9.750.000 đồng các bị cáo sử dụng đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc.
- Xét 02 bộ bài tây 52 lá, 01 cái mền kích thƣớc 60x80cm là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Hà Đình T, Đinh Thế V, Lâm Sơn H, Nguyễn Xuân H, Lê Công H, Trịnh Văn B và Nguyễn Huy D phạm “Tội đánh bạc”.
1.1 Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 248; Điều 31; Điểm h, p khoản 1, Điều 46; Điều 53 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Hà Đình T 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, đƣợc khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 29/7/2017 đến ngày 07/8/2017, bị cáo còn phải tiếp tục chấp hành 05 (năm) tháng 03 (ba) ngày. Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân phƣờng A, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng giám sát giáo dục. Thời hạn cải tạo không giam giữ đƣợc tính kể từ ngày Ủy ban nhân dân phƣờng An, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng nhận đƣợc bản án và Quyết định thi hành án.
Phạt bổ sung bị cáo Hà Đình T 5.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy D 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, đƣợc khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 29/7/2017 đến ngày 31/8/2017, bị cáo còn phải tiếp tục chấp hành 02 (hai) tháng 24 (hai mƣơi bốn) ngày. Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân phƣờng An, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng giám sát giáo dục. Thời hạn cải tạo không giam giữ đƣợc tính kể từ ngày Ủy ban nhân dân phƣờng An, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng nhận đƣợc bản án và Quyết định thi hành án.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Huy D 5.000.000 đồng
1.2 Áp dụng khoản 1 Điều 248; Điểm h, p khoản 1, Điều 46; Điều 53 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt Đinh Thế V 10.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Lâm Sơn H 10.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 10.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Lê Công H 10.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Trịnh Văn B 7.000.000 đồng.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, b khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tây 52 lá và 01 cái mền kích thƣớc 60x80cm.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc 9.750.000 đồng.
(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An).
3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14.
Các bị cáo Hà Đình T, Đinh Thế V, Lâm Sơn H, Nguyễn Xuân H, Lê Công H, Trịnh Văn B và Nguyễn Huy D, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bi ̣ cáo có quyền kháng cáo trong ha ̣n 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Dĩ An (01); - Công an thị xã Dĩ An (03); - Chi cục THA thị xã Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Ngƣời tham gia tố tụng (07); - THA hình sự (02); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01); - UBND. P An Bình, TX. Dĩ An, T. Bình Dƣơng; - Lƣu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quân Vƣơng |