- Tranh chấp gì? án hành chính — "Trịnh Xuân C"
- Tòa quyết gì? Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Xuân C về yêu cầu hủy các quyết định hành chính:
- Căn cứ chính? Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP Về xử phạt vi phạm hành chính tro…; Điều 3 Luật tố tụng hành chính; Nghị định số 118/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 296/2024/HC-ST Ngày: 10/9/2024 V/v khiếu kiện QĐ hành chính trong lĩnh vực đất đai. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Tiến Thành
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hải Y
Ông Hoàng Đức T
Đại diện VKSNDTP Hà Nội:
Bà Phạm Thị L, KSV trung cấp.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Thái A - CBTA
Ngày 10/09/2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội với điểm cầu thành phần là trụ sở UBND quận L B, xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 322/2023/TLST-HC ngày 09/10/2023 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 313/2024/QĐXXST-HC ngày 23/8/2024, giữa các đương sự:
Người khởi kiện:
Ông Trịnh Xuân C, sinh năm 1948; Địa chỉ: Số 73 phố V, tổ 8 phường VH, quận L , thành phố H (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: ông Bùi Văn T, Luật sư Văn phòng luật sư Thủy Nguyên – Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; Địa chỉ: Tầng 2 số 19, quận H, HN (có mặt).
Người bị kiện:
1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận L
-Đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Xuân T, chức vụ: Phó Chủ tịch UBND quận L.
-Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: ông Lê Xuân M, chức vụ: Phó Phòng TN&MT, và ông Nguyễn Duy A, Chuyên viên phòng TN&MT quận L (có mặt tại điểm cầu).
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường V, quận L
Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Xuân Hùng, chức vụ: Phó Chủ tịch UBND phường V .
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân phường V, quận L
* Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Xuân H, chức vụ: Phó Chủ tịch UBND phường V (vắng mặt).
2. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1950; Địa chỉ: Số 73 phố V, tổ 8 phường V, quận L, thành phố H (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai tiếp theo, người khởi kiện là ông Trịnh Xuân C trình bày:
Thửa đất 908, tờ bản đồ số 06 diện tích 296m2 có địa chỉ tại số 73 phố Việt Hưng, tổ 8 phường V, quận L, thành phố H có nguồn gốc là của bố mẹ để lại cho vợ chồng ông Trịnh Xuân C và bà Nguyễn Thị D. Ngày 22/07/2017, UBND quận L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số CH 466256 (Số vào sổ cấp GCN 960/QĐ-UBND-2577).
Năm 1999 ông Trịnh Xuân C xây nhà ở trên đất được bố mẹ cho. Ngày 26/4/2011, UBND quận L cấp Giấy phép xây dựng số 1038/GPXD cho phép ông xây nhà 04 tầng trên diện tích 296m2.
Ngày 16/01/2023, Chủ tịch UBND quận L ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 29/QĐ – XPHC đối với ông Trịnh Xuân C, lý do: Ông C đã tự lắp công trình khung cột thép, xung quanh xây dựng tường, phía trên tường dựng hàng rào sắt, lợp mái tôn, diện tích 6,7m2 trên diện tích đất thuộc hệ thống khu dân cư, liền kề với thửa đất số 908, tờ bản đồ số 06 (là thửa đất của nhà ông C) tại tổ 8 phường V thời điểm sau năm 2017 đến trước ngày 30/12/2019.
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 29/QĐ-XPHC căn cứ vào Biên bản vi phạm hành chính số 02/BB-VPHC ngày 10/01/2023 của UBND phường V nhưng ông C không hề biết và cũng không ký Biên bản vi phạm hành chính này. Quyết định số 29/QĐ-XPHC cũng căn cứ vào Kết luận nội dung tố cáo số 01/KL-UBND ngày 21/11/2022 của Chủ tịch UBND phường V là không có căn cứ và không đúng thực tế.
Ngày 21/06/2023 Chủ tịch UBND quận L ban hành Quyết định số 276/QĐ-BSXPHC điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 29 ngày 16/01/2023 lại càng không đúng. Ông Trịnh Xuân C khởi kiện đề nghị như sau:
- Hủy Kết luận nội dung tố cáo số 01/KL-UBND ngày 22/11/2022 của Chủ tịch UBND phường V.
- Hủy Quyết định số 29/QĐ-XPHC ngày 16/01/2023 của Chủ tịch UBND quận L về việc xử phạt vi phạm hành chính.
- Hủy Thông báo số 64/TB-UBND ngày 08/03/2023 của Chủ tịch UBND phường V về việc đôn đốc thực hiện Quyết định số 29/QĐ-XPHC ngày 16/01/2023 của UBND quận L.
- Hủy Quyết định số 276/QĐ-BSXPHC ngày 21/06/2023 của Chủ tịch UBND quận L về việc điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 29/QĐ – XPHC ngày 16/01/2023.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận L trình bày:
-Trình tự, thủ tục và thẩm quyền:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận L ban hành Quyết định số 29/QĐ – XPHC ngày 16/01/2023 về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Trịnh Xuân C là đúng thẩm quyền theo quy định tại Khoản 2 Điều 38 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ (được sửa đổi bổ sung tại Khoản 8 Điều 1 Nghị định số 04/2022/NĐ-CP ngày 06/01/2022 của Chính phủ), đúng trình tự thủ tục quy định tại Khoản 1 Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
-Cơ sở pháp lý ban hành Quyết định số 29/QĐ-XPHC ngày 16/01/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận L:
Ngày 10/01/2023, Ủy ban nhân dân phường V đã lập Biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông Trịnh Xuân C, theo đó, ông Trịnh Xuân C có hành vi lấn, chiếm đất phi nông nghiệp với diện tích lấn, chiếm 6,7m2 (dưới 0,05 héc ta) tại khu vực đô thị (tổ 8, phường V, quận L, thành phố H) quy định tại điểm a Khoản 4, Khoản 5 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; cụ thể: ông Trịnh Xuân C đã tự ý lắp dựng khung cột thép, xung quanh xây dựng tường, phía trên tường dựng hàng rào sắt, lứt sắt vì kèo sắt, mái lợp tôn trên phân diện tích là hệ thông tiêu thoát nước trong khu dân cư, diện tích vi phạm 6,7m2.
Ngày 10/01/2023, Uy ban nhân dân phường V có Tờ trình số 03/TTr-UBND về việc đề nghị xử lý vi phạm hành chính theo thấm quyền đối với hành vi vi phạm của ông Trịnh Xuân C.
Ngày 16/01/2023, Chủ tịch UBND quận L đã ban hành Quyết định số 29/QĐ-XPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Trịnh Xuân C. Theo đó, ông C bị xử phạt vi phạm hành chính vì đã thực hiện hành vi lần đất phi nông nghiệp (rãnh thoát nước) tại khu vực đô thị và bị áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phúc hậu quả là đúng với quy định tại điểm a Khoản 4, Khoản 5 và điểm a, điểm d Khoản 7 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ;
Ngày 21/6/2023, Chủ tịch UBND quận L có Quyết định số 276/QĐ-BSXPHC về việc điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 29/QĐ-XPHC ngày 16/01/2023.
Chủ tịch UBND quận L ban hành Quyết định số 29/QĐ-XPHC ngày 16/01/2023 và Quyết định số 276/QĐ-BSXPHC ngày 21/6/2023 là đúng quy định. Chủ tịch UBND quận L không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Xuân C.
Chủ tịch và Ủy ban nhân dân phường V trình bày:
-Về công tác quản lý đất đai, quá trình quản lý sử dụng đất của UBND phường qua các thời kỳ tại vị trí đất đang xem xét:
Hồ sơ địa chính lưu giữ tại UBND phường V gồm có:
+Sổ mục kê đất đai lập năm 1991-1992
+Bản đồ đo vẽ năm 1991-1992
+Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 466256 được UBND quận L cấp ngày 27/02/2017 đối với thửa đất số 908, tờ bản đồ số 6, người sử dụng đất ông Trịnh Xuân C, bà Nguyễn Thị D (bản phôtô)
Nguồn gốc, quá trình hình thành, sử dụng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
-Thửa đất của ông Trịnh Xuân C đã được cấp giấy chứng nhận
a. Vị trí thửa đất:
Thửa đất của gia đình ông Trịnh Xuân C tại số 73 phố V mặt trước (phía Bắc) tiếp giáp với cống thoát nước chìm của khu dân cư; phía Đông tiếp giáp với ngõ 71 phố V; phía Tây tiếp giáp cống thoát nước của khu dân cư tổ 8 phường V; phía Nam giáp thửa đất số 909 của gia đình ông Trương Bá C.
b. Nguồn gốc và quá trình hình thành, sử dụng đất:
Thửa đất có nguồn gốc đất ở của gia đình ông Trịnh Xuân C sử dụng trước ngày 18/12/1980.
Về hồ sơ địa chính lưu trữ: Số mục kê lập năm 1991-1992 thể hiện: Thửa đất 908, tở bản đồ số 6, diện tích 264m2, loại đất thổ cư, đăng ký tên chủ sử dụng đất ông Trịnh Xuân C. Bản đồ đo vẽ năm 1991-1992 lưu trữ trong hồ sơ địa chính thể hiện: Thửa đất số 908, tờ bản đồ số 06, diện tích 274m2.
Ngày 27/02/2017, Ủy ban nhân dân quận L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số phát hành CH466256; số vào sổ cấp giấy chứng nhận 960/QĐ-UBND-2577 mang tên ông Trịnh Xuân C và bà Nguyễn Thị D: Thửa đất 908, tờ bản đồ số 6; Diện tích 296m2; Mục đích sử dụng: Đất ở đô thị; Thời hạn sử dụng: Lâu dài.
Theo Giấy chứng nhận đã cấp, trên thửa đất 908, tờ bản đồ số 6 có Công trình nhà ở riêng lẻ; Diện tích xây dựng 97,5m2; Diện tích sàn là: 387,7m2.
Theo hiện trạng sử dụng, trên thửa đất 908, tờ bản đồ số 6 có công trình gồm: 01 nhà B3, diện tích 105m2; 01 nhà G2, diện tích 36m2; 01 nhà G1 diện tích 20m2.
Ngoài công trình trên đất, phía mặt tiếp giáp phố Việt H, gia đình ông Cừ có dựng cột sắt, lợp mái tôn, hiện có cửa hàng kinh doanh đang hoạt động
-Thửa đất là rãnh thoát nước:
a. Vị trí:
Vị trí thửa đất đang xem xét phía Đông giáp ngõ 71 phố Việt H, phía Tây giáp thửa đất số 907, phía Bắc giáp vỉa hè mặt phố Việt Hưng, phía Nam giáp thửa số 908, tờ bản đồ số 06 (thửa đất của ông Trịnh Xuân C và bà Nguyễn Thị D)
b. Nguồn gốc và quá trình hình thành, sử dụng đất:
Thửa đất đang xem xét nguồn gốc là rãnh thoát nước chung của khu dân cư, tiếp giáp với thửa đất số 908, tờ bản đồ số 06 đã được UBND quận Long Biên cấp GCNQSD đất số CH 466256, chủ sử dụng: ông Trịnh Xuân C và bà Nguyễn Thị D.
Theo hồ sơ địa chính được lập những năm 1991-1992 còn lưu tại UBND phường, phần đất này không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đánh số tờ, số thửa đất trên bản đồ.
Theo nội dung biên bản làm việc ngày 29/12/2021, cấp ủy tổ dân phố số 08, tổ dân phố số 09 cho biết: Liền kề thửa đất mà ông Trịnh Xuân C đang sử dụng là thửa đất ao số 907 của 05 hộ gia đình có nguồn gốc là đất ao được chia từ thời kỳ cải cách ruộng đất. Tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, các hộ đã thống nhất bớt lại 1m chiều sâu thửa đất để làm rãnh thoát nước cho các hộ gia đình trong ngõ 03/95 phố V chảy ra hệ thống cống thoát nước chung do UBND phường quản lý (chảy ra chỗ vị trí 6,7m2).
Theo kết quả đo đạc của Công ty TNHH Khảo sát thiết kế và đo đạc địa chính Hà Nội đo đạc, kiểm tra hiện trạng sử dụng đất của ông Trịnh Xuân C và bà Nguyễn Thị D. Phần diện tích đang xem xét có diện tích là 6,7m2 nằm ngoài diện tích đã được cấp GCNQSD đất của ông Trịnh Xuân C.
Trong quá trình đo đạc, ông Trịnh Xuân C không phối hợp xác định ranh giới, mốc giới, công ty TNHH Khảo sát thiết kế và đo đạc địa chính Hà Nội xác định theo hiện trạng công trình bằng máy toàn đạc điện tử.
-Quá trình lần chiếm rãnh thoát nước:
Theo biên bản họp ngày 09/01/2023 về việc xin ý kiến khu dân cư xác định nguồn gốc, quá trình hình thành và thời điểm xây dựng công trình trên thửa đất đang xem xét (phần diện tích lấn chiếm ngoài GCNQSD đất của ông Trịnh Xuân C), thời điểm ông Trịnh Xuân C xây dựng công trình vi phạm là năm 2017.
Hiện trạng công trình trên thửa đất đang xem xét có:
+ 01 lán tạm có kết cấu khung cột thép, xung quanh xây tường 110 bổ trụ 333x333; cao 3,8m.
+ 02 bức tường xây: Bức tường thứ nhất dài: 1,68m; cao 3,8m; Trụ tường cao 2,2m. Bức tường hai dài 0,55m; cao 1,7m; trụ tường dài 0,45m; cao 2,2m.
+ 02 hai cửa cuốn: cửa cuốn thứ nhất dài 2,6m; cao 3,5m. Cửa cuốn thứ hai: 3,1m; cao 3,5m.
+ Phía trên tường dựng hàng rào sắt, lưới sắt vì kèo sắt, mái lợp tôn; nền lát gạch đỏ.
Căn cứ GCNQSD đất số CH 466256 do UBND quận L cấp ngày 27/02/2017 đối với thửa đất số 908, tờ bản đồ số 06,
Căn cứ kết quả kiểm tra, đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 18/11/2022, Tổ xác minh xác định phần diện tích đất theo nội dung đơn tố cáo có diện tích 6,7m2 nằm ngoài diện tích đất đã được cấp GCNQSD đất cho ông Trịnh Xuân C, nguồn gốc là đất sử dụng vào mục đích công cộng (mương thoát nước). Hiện ông Trịnh Xuân C đang tự sử dụng và lắp dựng công trình khung cột thép, mái tôn như hiện trạng đã nêu. UBND phường không có tài liệu lưu trữ về thời điểm ông Trịnh Xuân C tự sử dụng đất và lắp dựng công trình.
-Trách nhiệm quản lý nhà nước của UBND phường đối với vị trí đất đang xem xét
Sau khi tiếp nhận Đơn kiến nghị ngày 10/10/2022 của bà Trương Thị H, UBND phường đã kiểm tra, xác minh làm rõ nội dung kiến nghị tố cáo và ban hành Kết luận tố cáo số 01/KL-UBND ngày 21/11/2022 đối với ông Trịnh Xuân C về hành vi lấn đất công, địa chỉ tại số 73 phố V, tổ 8, phường V. Nội dung đơn tố cáo là tố cáo đúng.
UBND phường đã lập biên bản vi phạm hành chính, trình UBND quận L ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lấn đất của ông Trịnh Xuân C theo quy định tại điểm a, khoản 4 và khoản 5, Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ.
Ngày 16/01/2023, UBND quận L đã ban hành Quyết định số 29/QĐ-XPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Trịnh Xuân C.
UBND phường đã tống đạt Quyết định số 29/QĐ-XPHC ngày 16/01/2023 đến ông Trịnh Xuân C và ban hành Thông báo số 64/TB-UBND ngày 08/3/2023 (lần 01), Thông báo số 72/TB-UBND ngày 14/3/2023 (lần 02); Thông báo số 78/TB-UBND ngày 20/3/2023 (lần 3) về việc đôn đốc ông Trịnh Xuân C thực hiện Quyết định số 29/QĐ-XPHC ngày 16/01/2023.
UBND phường luôn chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật trong suốt quá trình giải quyết nội dung tố cáo của công dân cũng như để xuất UBND quận ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sai phạm của ông Trịnh Xuân C.
Tại phiên tòa: Ông Trịnh Xuân C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị hủy Quyết định số 29/QĐ-XPHC ngày 16/01/2023 của Chủ tịch UBND quận Long Biên về việc xử phạt vi phạm hành chính; Quyết định số 276/QĐ-BSXPHC ngày 21/06/2023 của Chủ tịch UBND quận L về việc điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 29/QĐ-XPHC ngày 16/01/2023.
Luật sư Bùi Văn T trình bày luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Cừ và đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Xuân C là hủy hai quyết định nêu trên. Người khởi kiện rút yêu cầu hủy Kết luận nội dung tố cáo số 01/KL-UBND ngày 22/11/2022 của Chủ tịch UBND phường V và Thông báo số 64/TB-UBND ngày 08/03/2023 của Chủ tịch UBND phường V bởi hai văn bản không phải là quyết định hành chính theo quy định luật tố tụng hành chính.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Chủ tịch UBND quận L trình bày giữ nguyên nội dung các quyết định hành chính bị kiện, đề nghị không chấp nhận nội dung khởi kiện của ông Trịnh Xuân C.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội trình bày về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã thực hiện đúng Luật tố tụng hành chính. Sau khi trình bày nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Xuân C về tuyên hủy Quyết định số 29/QĐ-XPHC ngày 16/01/2023 của Chủ tịch UBND quận L về việc xử phạt vi phạm hành chính; Quyết định số 276/QĐ-BSXPHC ngày 21/06/2023 của Chủ tịch UBND quận L về việc điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 29/QĐ – XPHC ngày 16/01/2023
Đình chỉ giải quyết yêu cầu của ông Trịnh Xuân Cừ về việc hủy Thông báo số 64/TB-UBND ngày 08/03/2023 của Chủ tịch UBND phường V, và Kết luận nội dung tố cáo số 01/KL-UBND ngày 22/11/2022 của Chủ tịch UBND phường V. Yêu cầu Chủ tịch UBND quận L đính chính số tiền ông Trịnh Xuân C phải nộp vào kho bạc nhà nước quận Long Biên. Ông Trịnh Xuân C là người cao tuổi nên được miễn án phí hành chính sơ thẩm theo quy định.
Sau khi xem xét, đánh giá khách quan toàn diện những tài liệu chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, quan điểm của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện:
Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng Hành chính và Nghị quyết số 01/2015/NQ-HĐTP ngày 15/01/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì đối tượng khởi kiện trong vụ án là:
- Quyết định số 29/QĐ-XPHC ngày 16/01/2023 của Chủ tịch UBND quận L về xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Trịnh Xuân C.
- Quyết định số 276/QĐ-BSXPHC ngày 21/06/2023 của Chủ tịch UBND quận L về việc điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 29/QĐ-XPHC.
Kết luận nội dung tố cáo số 01/KL-UBND ngày 21/01/2023 của Chủ tịch UBND phường V, và Thông báo số 64/TB-UBND ngày 08/3/2023 của Chủ tịch UBND phường V không là quyết định hành chính nên không thuộc đối tượng khởi kiện theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính. Người khởi kiện rút yêu cầu khởi kiện đối với hai văn bản này tại phiên tòa.
Ngày 20/3/2023 ông Trịnh Xuân C nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội yêu cầu hủy các quyết định nêu trên là đảm bảo thời hiệu theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng Hành chính.
Về thẩm quyền giải quyết:
Người bị kiện là Chủ tịch UBND quận L và Chủ tịch UBND phường V nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố H theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng Hành chính.
Về nội dung:
Về nguồn gốc sử dụng đất:
Theo hồ sơ lưu giữ tại phường V, quận L thể hiện thửa đất 908, tờ bản đồ số 6 như sau:
+ Tại sổ mục kê năm 1991 – 1992 thể hiện diện tích 264m2, chủ sử dụng đất là ông Trịnh Xuân C.
+ Bản đồ địa chính lập năm 1991-1992 có diện tích 274m2
Năm 2017 UBND quận L cấp GCN QSDĐ số CH 466256 cho ông Trịnh Xuân C và bà Nguyễn Thị D với diện tích 296m2. Ông C xác nhận từ thời điểm được cấp GCN, xây nhà ông không có tranh chấp gì về ranh giới, diện tích với các hộ gia đình xung quanh.
Từ năm 2021 giữa ông C và các hộ dân tổ dân phố số 8 đã có việc tranh chấp về việc ông C lấn chiếm khu vực rãnh thoát nước của tổ dân phố. Diện tích làm rãnh thoát nước này liền kề với thửa đất 908 tờ bản đồ số 06, mặc dù diện tích làm rãnh thoát nước không có trong bản đồ giải thửa nhưng tại Biên bản họp xin ý kiến khu dân cư về nguồn gốc phần đất tiếp giáp thửa đất 908, tờ bản đồ số 06 ngày 09/01/2023 tại UBND phường V đã kết luận: “Nguồn gốc phần diện tích tiếp giáp thửa đất 908, tờ bản đồ 6 ông Cừ đang quản lý sử dụng là rãnh thoát nước, phía dưới là hệ thống thoát nước cho các hộ gia đình trong ngõ 71 phố Việt Hưng và các hộ ngõ 3/95 phố V, thời điểm lấn chiếm sau tháng 2/2017 và trước ngày 30/12/2019.”
Ngày 10/01/2023, UBND phường V đã tổ chức kiểm tra hiện trạng phần diện tích tiếp giáp với thửa đất 908, tờ bản đồ số 6 gia đình ông C đang sử dụng, kết quả: Ngoài phần diện tích được cấp theo GCNQSDĐ là 296m2, gia đình ông C đã lấn chiếm 6,7m2. Trên diện tích vi phạm có kết cấu khung thép, xung quanh xây tường 10 bổ trụ 333 x 333; cao 3,8m. Có 02 bức tường. Bức tường thứ nhất dài 1,68m, cao 3,8m, trụ tường cao 2,2m. Bức tường thứ 2 dài 0,55m, cao 1,7m, trụ tường dài 0,45m, cao 2,2m. Hiện trạng có lắp dựng 02 phần cửa cuốn: cửa cuốn thứ nhất dài 2,6m, cao 3,5m; cửa cuốn thứ 2 dài 3,1m, cao 3,5m.
Tại hồ sơ kỹ thuật thửa đất kèm theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 18/07/2024 thể hiện: Tổng diện tích ông C, bà D đang sử dụng là 325,9m2, so với diện tích ông C, bà D được cấp Giấy chứng nhận thì chênh lệch là 29,9m2. Chồng ghép với Giấy chứng nhận quyền sử dung đất thì phần diện tích đất được xác định là rãnh thoát nước tiếp giáp với thửa đất 908 có việc mở rộng ngoài phạm vi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện trạng trên phần đất này có sân lát gạch đỏ, tường bao cao 1,8m, quây lưới théo, lợp tôn, cửa cuốn.
Ông C cho rằng diện tích ông xây dựng là căn cứ vào Giấy phép xây dựng số 1038/GPXD ngày 26/4/2011 do UBND quận L cấp. Tuy nhiên tại Giấy phép này thể hiện:
Giấy tờ về quyền sử dụng đất là đơn xin xác nhận nguồn gốc sử dụng đất được UBND phường V và Phòng tài nguyên và môi trường quận L xác nhận: Đủ điều kiện cấp GCN quyền sử dụng đất 296m2.
Tại giấy phép này cũng nêu yêu cầu chủ đầu tư phải thực hiện các nội dung, trong đó có:
- Phải thực hiện đầy đủ và đúng theo các quy định của pháp luật hiện hành về đất đai, đầu tư xây dựng và nội dung giấy phép xây dựng.
- Khi xây dựng công trình không làm ảnh hưởng đến tiêu thoát nước chung và hành lang bảo vệ các công trình hạ tầng khác trong khu vực.
- Xây dựng trên tường riêng, móng riêng và trong phần đất được sử dụng.
Khoản 1, Điều 3 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai thì: “Lấn đất là việc người sử dụng đất chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất sử dụng mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép hoặc không được người sử dụng hợp pháp diện tích đất bị lấn đó cho phép”.
Như vậy, căn cứ hồ sơ lưu giữ, bản đồ địa chính xác định ông Cừ có hành vi lấn chiếm đất ra ngoài diện tích đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp theo kết luận của Chủ tịch UBND phường V là có cơ sở.
[4.] Xét tính hợp pháp Quyết định 29/QĐ-XPHC ngày 16/1/2023 của Chủ tịch quận L và Quyết định 276/QĐ-BSXPHC ngày 21/6/2023 của Chủ tịch UBND quận L:
Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền:
Căn cứ Luật xử lý vi phạm hành chính 2012; Luật sử đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Nghị định số 91/2019/NĐ – CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 04/2022/NĐ-CP ngày 06/01/2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, tài nguyên nước và khoáng sản, khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ; Chủ tịch UBND quận L ban hành Quyết định 29/QĐ-XPHC ngày 16/1/2023 và Quyết định 276/QĐ-BSXPHC ngày 21/6/2023 là đúng thẩm quyền.
Biên bản vi phạm hành chính số 02/BB-VPHC ngày 10/01/2023 do UBND phường V lập theo quy định tại Điều 58 Luật xử phạt vi phạm hành chính.
Sau khi lập Biên bản vi phạm hành chính, UBND phường V lập Tờ trình số 03/TTr-UBND ngày 10/01/2023, Phòng Tài nguyên và môi trường quận L lập Tờ trình số 23/TTr-TNMT ngày 13/01/2023. Chủ tịch UBND quận L ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 29/QĐ-XPHC ngày 16/01/2023 là đúng trình tự, thủ tục và trong thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Ngày 21/06/2023, Phòng Tài nguyên và Môi trường quận L có văn bản số 283/TNMT-ĐĐ về việc bổ sung căn cứ pháp lý và mức phạt tiền theo Nghị quyết số 19/2021/NQ-HĐND đối với hồ sơ xử lý vi phạm đất đai của ông Trịnh Xuân C. Chủ tịch UBND quận L ban hành Quyết định số 276/QĐ-BSXPHC ngày 21/6/2023 điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 29/QĐ – XPHC ngày 16/01/2023 là có căn cứ.
Về mức phạt:
Chủ tịch UBND quận L áp dụng điểm a khoản 4 và khoản 5 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/01/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai để xử phạt ông Trịnh Xuân C về hành vi lấn đất phi nông nghiệp (rãnh thoát nước) tại khu vực đô thị là có căn cứ.
Tuy nhiên tại thời điểm ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, căn cứ thẩm quyền của Hội đồng nhân dân được quy định tại khoản 1, khoản 3 điều 23, điều 24 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 và Luật sửa đổi bổ sung luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Luật Thủ đô năm 2012. Điều 2 Nghị quyết 19/2021 ngày 10/12/2021 của Hội đồng nhân dân thành phố quy định mức tiền phạt có hiệu lực từ 01/01/2022 thì mức tiền phạt quy định đối với các hành vi vi phạm hành chính trong Nghị quyết bằng 02 lần mức tiền phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính tương ứng trong Nghị định 91/2019. Do đó Quyết định 276/QĐ-BSXPHC ngày 21/6/2023 của Chủ tịch UBND quận L thay đổi mức tiền phạt ông Trịnh Xuân C là 60.000.000đ là không vượt quá thẩm quyền của Chủ tịch quận quy định về mức tiền phạt đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai ở nội thành.
Về biện pháp khắc phục hậu quả:
-Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của thửa đất trước khi vi phạm và buộc trả lại đất đã lấn chiếm.
-Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm 4.525.142 đồng.
Căn cứ quy định tại Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/01/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Điều 7 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP và Điều 1 Nghị định số 04/2022/NĐ-CP ngày 06/01/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, tài nguyên nước và khoáng sản, khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ, Chủ tịch UBND quận L tính số lợi bất hợp pháp do thực hiện hành vi vi phạm đối với ông Trịnh Xuân C với số tiền 4.525.142 đồng là có căn cứ. Theo đó đề nghị Chủ tịch UBND quận L thông báo lại tổng số tiền phạt và tiền thu lợi mà ông Trịnh Xuân C phải nộp để bảo đảm việc thi hành quyết định xử phạt hành chính.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy ông Trịnh Xuân C khởi kiện yêu cầu hủy các quyết định của Chủ tịch UBND quận L không có căn cứ, nên bác toàn bộ nội dung khởi kiện của ông Trịnh Xuân C, phù hợp với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát trình bày tại phiên tòa.
Về án phí sơ thẩm, quyền kháng cáo:
Theo Luật người cao tuổi, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì ông Trịnh Xuân C là người cao tuổi nên được miễn án phí hành chính sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 204 và Điều 206 Luật tố tụng hánh chính.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 3, Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, Điều 204, Điều 206 Luật tố tụng hành chính; Luật xử lý vi phạm hành chính 2012; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 04/2022/NĐ-CP ngày 06/01/2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, tài nguyên nước và khoáng sản, khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ; Nghị quyết số 19/2021/NQ-HĐND ngày 10/12/2021 của Hội đồng nhân dân thành phố quy định mức tiền phạt đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai ở nội thành Hà Nội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Xuân C về yêu cầu hủy các quyết định hành chính:
- Quyết định số 29/QĐ-XPHC ngày 16/01/2023 của Chủ tịch UBND quận L về việc xử phạt vi phạm hành chính
- Quyết định số 276/QĐ-BSXPHC ngày 21/06/2023 của Chủ tịch UBND quận L về việc điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 29/QĐ-XPHC.
3. Về án phí sơ thẩm: Ông Trịnh Xuân C được miễn án phí hành chính sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND TP Hà Nội; -TANDCC tại Hà Nội; - Các đương sự; - Cục THADS TP Hà Nội; - Lưu: VT, HSVA. TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Thành Các Hội thẩm nhân dân: sơ thẩm tiến hành nghị án vụ án hành chính thụ lý số số 322/2023/TLST-HC ngày 09/10/2023 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 313/2024/QĐXXST-HC ngày 23/8/2024, giữa các đương sự: Người khởi kiện: phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội (có mặt). 19 Tràng Thi, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội (có mặt). Người bị kiện: 1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận Long Biên UBND quận Long Biên. Phó Phòng TN&MT, và ông Nguyễn Duy Anh, Chuyên viên phòng TN&MT quận Long Biên (có mặt tại điểm cầu). UBND phường Việt Hưng (vắng mặt). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Ủy ban nhân dân phường Việt Hưng, quận Long Biên. UBND phường Việt Hưng (vắng mặt). phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội (vắng mặt). tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU -Về căn cứ pháp luật: 2020; Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày Luật xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 04/2022/NĐ-CP ngày 06/01/2022 bản đồ; Nghị quyết số 19/2021/NQ-HĐND ngày 10/12/2021 của Hội đồng nhân lĩnh vực đất đai ở nội thành Hà Nội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: các quyết định hành chính: Long Biên về việc xử phạt vi phạm hành chính quận Long Biên về việc điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 29/QĐ-XPHC. thẩm. được niêm yết theo quy định của pháp luật. Việc nghị án kết thúc vào hồi 15 giờ 10 phút, cùng ngày. nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Thành CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BIÊN BẢN NGHỊ ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bà Nguyễn Thị Hải Yến Ông Hoàng Đức Thọ. Vào hồi 15 giờ 00 phút, ngày 10/9/2024, tại phòng nghị án, Hội đồng xét xử Ông Trịnh Xuân Cừ, sinh năm 1948; Địa chỉ: Số 73 phố Việt Hưng, tổ 8 Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: ông Bùi Văn Thấm, Luật sư Văn phòng luật sư Thủy Nguyên – Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; Địa chỉ: Tầng 2 số -Đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Xuân Trường, chức vụ: Phó Chủ tịch -Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: ông Lê Xuân Mạnh, chức vụ: 2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Việt Hưng, quận Long Biên Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Xuân Hùng, chức vụ: Phó Chủ tịch * Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Xuân Hùng, chức vụ: Phó Chủ tịch 2. Bà Nguyễn Thị Dễ, sinh năm 1950; Địa chỉ: Số 73 phố Việt Hưng, tổ 8 Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh (8) Căn cứ khoản 1, 2 Điều 3, Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, Điều 204, Điều 206 Luật tố tụng hành chính; Luật xử lý vi phạm hành chính 2012; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, tài nguyên nước và khoáng sản, khí tượng thủy văn, đo đạc và dân thành phố quy định mức tiền phạt đối với hành vi vi phạm hành chính trong 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, 1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Xuân Cừ về yêu cầu hủy - Quyết định số 29/QĐ-XPHC ngày 16/01/2023 của Chủ tịch UBND quận - Quyết định số 276/QĐ-BSXPHC ngày 21/06/2023 của Chủ tịch UBND 3. Về án phí sơ thẩm: Ông Trịnh Xuân Cừ được miễn án phí hành chính sơ 4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc từ ngày bản án Thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết đạt 100% nhất trí quyết định trên. Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng Nguyễn Tiến Thành |