- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 296/2020/HS-ST Ngày 15 tháng 7 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Như Hoa – Bà Phạm Thị Thu Hà.
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Minh – Thư ký TAND TP Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân TP Vinh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 265/2020/TLST-HS ngày 10/6/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 394/2020/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Thị B - sinh ngày 26/01/1986 tại huyện Hưng N, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKNKTT: xóm 1, xã Xuân B, huyện Hưng N, tỉnh Nghệ An, nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 05/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông: Võ Văn N (chết) và bà Trần Thị H, sinh năm 1960, Chồng: Không xác định, Con: có 01 con sinh năm 2016, Anh chị em ruột có 6 người bị cáo là cón thứ ba trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/4/2020 cho đến nay – có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 12 giờ ngày 21/4/2020 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Võ Thị B đi đến khu vực cầu gãy thuộc xã Hưng Thịnh, huyện Hưng N để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, B gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch địa chỉ) và mua của người đàn ông này 01 gói ma túy tổng hợp dạng đá với giá 300.000đ. Mua ma túy xong B chia gói ma túy vừa mua thành 02 gói ma túy để sử dụng dần. Sau đó Võ Thị B đến khu vực ngõ 269 đường Phạm Hồng Thái, pH Vinh Tân, TP Vinh thì bị tổ công tác Công an pH Bến Thủy, TP Vinh phát hiện và bắt quả tang thu giữ trong túi áo khoác bên trái mà Võ Thị B đang mặc 02 gói potilen màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, Võ Thị B khai nhận đó là ma túy tổng hợp dạng đá cất dấu để sử dụng. Tổ công tác tiền hành thu giữ vật chứng sau đó áp giải Võ Thị B về trụ sở Công an pH Bến Thủy, TP Vinh lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 21/4/2020 và Kết luận giám định số 540/KL-PC09(MT) ngày 25/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Võ Thị B gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine) có tổng khối lượng là 0,285 gam.
Tại bản cáo trạng số 305/VKS-HS ngày 10/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Võ Thị B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ N quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Võ Thị B mức án từ 12 – 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Khối lượng ma túy (Methamphetamine) thu giữ của bị cáo là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mà không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
2.1. Xét hành vi phạm tội: Xét lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ,được tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 21/4/2020 tại số 269 đường Phạm Hồng Thái, khối Châu Hưng, pH Vinh Tân, TP Vinh, Võ Thị B đang cất giữ trái phép 02 gói ma túy (Methamphetamine) có tổng khối lượng 0,285 gam nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
2.2. Xét tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tội phạm thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi cất dấu ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng do thiếu bản lĩnh, không làm chủ được bản thân nên đã đi vào con đường phạm tội, thể hiện ý thức bản thân kém, coi tH pháp luật. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn thuộc hộ cận nghèo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên xử phạt bị cáo đầu khung hình phạt như đề nghị của vị đại diệnViện kiểm sát là phù hợp.
2.3 Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội phạm này ngoài hình phạt chính còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định và không có tài sản nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.
2.4. Về vật chứng: Khối lượng ma túy (Methamphetamine) thu giữ của bị cáo là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo nhưng bị cáo không biết rõ lai lịch, địa chỉ. Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ và sẽ xử lý sau.
Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nhưng không có đơn xin miễn án phí nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Thị B 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 21/4/2020.
Căn cứ điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong có chứa ma túy (Methamphetamine) vật chứng hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh theo phiếu nhập kho số NK 0352 ngày 18/6/2020
Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban tH vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Võ Thị B phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ các điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - VKSNDTP Vinh; - Cơ quan CSĐT Công an TP Vinh; - Chi cục THADSTP Vinh; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - Trai giam Công an tỉnh Nghệ An; - Bị cáo; - Lưu HS vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |