- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Việt H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 296/2020/HS-ST Ngày: 22-9-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Cúc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Trọng Tâm
2. Bà Nguyễn Thị Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 291/2020/TLST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 313/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Việt H;
Sinh ngày 24 tháng 7 năm 2001; Tại: Đắk Lắk; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn x, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Nguyễn Đức Đ và con bà Hà Thị L. Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt ngày từ ngày 04/6/2020 chuyển sang tạm giam, hiện đang tạm giam – Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Đức Đ – Sinh năm 1972.
Địa chỉ: x đường N, thôn x, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Việt H nghiện chất ma túy cần sa từ tháng 5/2020. Quá trình sử dụng ma túy, H quen biết với một người nam giới tên “Tâm nẩu” (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) là người bán ma túy cần sa. Do không có việc làm, H nghĩ ra cách mua ma túy cần sa về bán lại kiếm lời. Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 04/6/2020 có một người nam giới tên Quang (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) dùng số điện thoại xxxxxxxxxx gọi vào số điện thoại xxxxxxxxx của H để hỏi mua 100.000 đồng ma túy cần sa, H đồng ý và thỏa thuận gặp nhau ở quán cà phê khu vực sân bay thuộc xã H, thành phố B giao nhận ma túy. Sau đó, H liên lạc mua của đối tượng “Tâm nẩu” 02 gói cần sa rồi cất giấu ma túy trong túi quần bên trái phía trước đi đến điểm hẹn để bán ma túy cho Quang. Khi H đi đến trước số nhà 22 đường Đ, xã H, thành phố B thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Tạm giữ trong người H 02 gói nylon đều chứa thảo mộc khô màu xanh, được niêm phong theo quy định pháp luật.
Theo kết luận giám định số 516/GĐMT-PC09 ngày 12/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận thảo mộc khô màu xanh gửi giám định là ma túy, loại cần sa, có tổng khối lượng 3,7703 gam.
Tại bản cáo trạng số: 297/CT-VKS ngày 31/8/2020 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố Nguyễn Việt H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Việt H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Việt H mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Đối với 1,9614 gam chất ma túy loại cần sa và bao gói còn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 516/GĐMT-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, model C2-01, màu đen bạc, số seri 351936058818840, gắn sim số xxxxxxxxxx là tài sản H sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO, số loại LIBERTY, màu sơn trắng, số khung RP8M73100BV007826, số máy M731M4007819, mang biển số 47L1-140.xx chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra trao trả cho ông Nguyễn Đức Đ quản lý sử dụng.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, chỉ đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo: vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 04/6/2020 tại khu vực trước số nhà 22 đường Đ, xã H, thành phố B, Nguyễn Việt H có hành vi cất giấu 3,7703 gam ma túy loại cần sa, mục đích bán lại cho người khác thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Buôn Ma Thuột phát hiện, bắt quả tang. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận tàng trữ ma túy mục đích để bán lại cho người khác thì bị bắt.
Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Việt H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm lớn cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy và gây mất trật tự trị an trên địa bàn địa phương. Bị cáo biết tác hại của ma túy, việc mua bán bị nghiêm cấm, song do ý thức coi thường pháp luật, nên vào khoảng 15h30’ ngày 04/6/2020 bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 3,7703 gam ma túy loại cần sa, mục đích để bán lại cho người khác. Do vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Nguyễn Việt H theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm chung trong xã hội.
Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo khoan hồng của nhà nước ta.
Đối với đối tượng “Tâm nẩu” bán ma túy cho H, quá trình điều tra xác minh đến nay Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch nên tách ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
Đối với số điện thoại xxxxxxxxxx, xxxxxxxxxx, xxxxxxxxxx có liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã có công văn đề nghị Ban khai thác mạng, tổng công ty hạ tầng mạng (VNPT Net) cung cấp thông tin về chủ thuê bao. Tuy nhiên đến nay tổng công ty hạ tầng mạng vẫn chưa có kết quả trả lời nên chưa có căn cứ để xử lý.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 1,9614 gam chất ma túy loại cần sa và bao gói còn lại sau giám định, trong phong bì niêm phong số 516/GĐMT-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, model C2-01, màu đen bạc, số seri 351936058818840, gắn sim số xxxxxxxxx là tài sản H sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO, số loại LIBERTY, màu sơn trắng, số khung RP8M73100BV007826, số máy M731M4007819, mang biển số 47L1-140.xx theo kết quả tra cứu tại Phòng cảnh sát giao thông thể hiện chủ sở hữu là ông Nguyễn Đức Đ - sinh năm 1972, hộ khẩu thường trú xxx đường N, thôn x, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk là cha ruột của Nguyễn Việt H. Vào ngày 04/6/2020 H mượn xe mô tô nói trên của ông Đ để đi mua bán ma túy thì ông Đ không biết, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông Đ và ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô nói trên cho ông Đ tiếp tục quản lý, sử dụng là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, (ngày 04/6/2020).
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy đối với 1,9614 gam chất ma túy loại cần sa và bao gói còn lại sau giám định, trong phong bì niêm phong số 516/GĐMT-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk là vật chứng của vụ án.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, model C2-01, màu đen bạc, số seri 351936058818840, gắn sim số xxxxxxxxxx là tài sản H sử dụng làm phương tiện phạm tội.
- Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra trao trả 01 xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO, số loại LIBERTY, màu sơn trắng, số khung RP8M73100BV007826, số máy M731M4007819, mang biển số 47L1-14xx, cho ông Nguyễn Đức Đ quản lý, sử dụng.
(Vật chứng có đặc điểm và số lượng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/9/2020 giữa Công an thành phố Buôn Ma Thuột và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột)
* Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Việt H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm ngày) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 – TAND TC; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND Tp. Buôn Ma Thuột; - Công an Tp. Buôn Ma Thuột; - Thi hành án phạt tù (để thi hành); - Chi cục THADS Tp. Buôn Ma Thuột; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Bị cáo, các đương sự; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Kim Cúc |