vanban.org

Bản án 295/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 295/2025/HS-ST
Ngày: 16/5/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Vương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Chi

2. Ông Nguyễn Cửu Long

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Trí – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Ngụy Khắc Vĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 216/2025/HSST ngày 10/4/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 285/2025/QĐXXST-HS ngày 24/4/2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thu P; sinh năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: D7d KP Bình Đức 2, phường Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương; nơi ở hiện nay: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức P1 và bà Tạ Thị Thu C; Bị cáo có chồng (đã chết), có một con sinh năm 2011.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2024 đến nay.

(Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 25/07/2024, Nguyễn Thị Thu P đến khu vực Bệnh viện Ung Bướu, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh gặp người phụ nữ tên D (không xác định nhân thân, lai lịch) mua 01 gói ma túy giá 200.000 đồng sau đó đem về nhà lấy 01 ít ra sử dụng, số ma túy còn lại P hàn kín miệng gói nylon lại rồi bỏ vào gói nylon vỏ hộp nhang muỗi hiệu Jumbo.

Khoảng 8 giờ ngày 26/07/2024, có người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) gọi điện thoại cho P hỏi mua 300.000 đồng ma túy, P đồng ý và hẹn giao tại cổng chào ấp B, thuộc phường T, thành phố T (do trước đây P đã từng ở khu vực này nên P biết khu vực này). P lấy phần còn lại của gói ma túy giấu trong vỏ hộp nhang muỗi hiệu Jumbo rồi đi bộ ra đầu đường Trục Chính, khu phố 14, phường An Phú, thành phố Thủ Đức bắt xe ôm (không nhớ biển số xe) đến khu vực cổng chào ấp Bình Lợi, thuộc phường Thạnh Mỹ Lợi nhưng chưa gặp được người đàn ông mua ma túy nên đứng chờ để giao ma túy thì bị Công an phường Thạnh Mỹ Lợi, thành phố Thủ Đức kiểm tra và thu giữ gói ma tuý như trên.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra tra Công an thành phố Thủ Đức (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh) Nguyễn Thị Thu P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên (BL73-89).

Kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể đối với Nguyễn Thị Thu P dương tính với Methamphetamine (BL55-56).

Kết luận giám định số 8948/KL-KTHS ngày 02/8/2024 của kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2959g (không phẩy hai chín năm chín gam), loại Methaphetamin (BL62).

* Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) ĐTDĐ hiệu OPPO màu đen, số sim 0928873870 và 385674122 của Nguyễn Thị Thu P (máy đã qua sử dụng);

- 01 (một) gói niêm phong có mã vụ 2728/24, bên ngoài có chữ ký ghi tên cán bộ Nguyễn Thị Phương Mai, giám định viên Bùi Công Danh và Trịnh Hải Thắng bên trong có khối lượng ma túy còn lại sau khi phục vụ giám định là 0,2423g (BL61);

Bản Cáo trạng số 232/CT-VKSTPTĐ ngày 09/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng đã nêu. bị cáo đồng ý với kết luận giám định, đồng ý với các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng và không khiếu nại hay có ý kiến gì khác

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về hành vi, tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu P từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) ĐTDĐ hiệu OPPO màu đen; tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên trong có khối lượng ma túy còn lại sau khi phục vụ giám định là 0,2423g.

Về biện pháp tư pháp và hình phạt bổ sung: Không.

Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Bị cáo P không bào chữa, tranh luận và nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội làm công dân tốt cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 8 giờ 00 phút ngày 26/07/2024, tại khu vực cổng chào ấp Bình Lợi, phường Thạnh Mỹ Lợi, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị Thu P đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methaphetamin, trọng lượng 0,2959 gam nhằm mục đích mua bán thì bị phát hiện bắt quả tang, cùng tang vật.

Hành vi của Nguyễn Thị Thu P đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Cáo trạng số 232/CT-VKSTPTĐ ngày 09/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho P, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về tình tiết định khung tăng nặng hình phạt: Không có.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo:

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:

Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo P đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là nghiêm trọng. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, tàng trữ các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, làm tiền đề phát sinh nhiều tội phạm, tệ nạn xấu trong xã hội. Do đó, cần phải có mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong toàn xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6.] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, số sim 0928873870 và 385674122 của Nguyễn Thị Thu P (máy đã qua sử dụng), đây là vật bị cáo sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội và có giá trị nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

- Đối với 01 (một) gói niêm phong có mã vụ 2728/24, bên ngoài có chữ ký ghi tên cán bộ Nguyễn Thị Phương Mai, giám định viên Bùi Công Danh và Trịnh Hải Thắng bên trong có khối lượng ma túy còn lại sau khi phục vụ giám định là 0,2423g. Đây là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là phù hợp với quy định pháp luật, hành vi phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận toàn bộ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Căn cứ khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

- Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu P 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 26/7/2024.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, số sim 0928873870 và 385674122 của Nguyễn Thị Thu P (máy đã qua sử dụng).

- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong có mã vụ 2728/24, bên ngoài có chữ ký ghi tên cán bộ Nguyễn Thị Phương Mai, giám định viên Bùi Công Danh và Trịnh Hải Thắng bên trong có khối lượng ma túy còn lại sau khi phục vụ giám định là 0,2423g.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 183/QĐ-VKSTPTĐ ngày 09/4/2025 và Biên bản giao nhận tang tài vật số 284 C ngày 17/4/2025).

4. Về án phí:

Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ