vanban.org

Bản án 295/2024/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 30/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo NTH phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: - Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: bị cáo NTH 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NTH phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo NTH phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH XUÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 295/2024/HS - ST
Ngày 30 tháng 12 năm 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân

Bà NTTL

Bà CTT

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà NTAM– Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa: Bà NTH - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 298/2024/HSST ngày 11/12/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 307/2024/QĐXXST – HS ngày 13/12/2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: NTH, sinh năm 2000; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: PD 1, xã PĐ, huyện GL, Hà Nội; Chỗ ở hiện tại: PD 1, xã PĐ, huyện GL, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: chưa có; Con ông: NTH sinh năm 1971 và bà VTH sinh năm 1971; Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt quả tang ngày 22/10/2024; Tạm giữ ngày: 22/10/2024; Tạm giam ngày 24/10/2024; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Hà Nội – Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 00 giờ 05 phút ngày 22/10/2024, tại đầu ngõ 93 VTP, KT, TX, Hà Nội, tổ công tác Công an phường KT phát hiện NTH đứng cạnh chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29S1 – 221.04 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, NTH khai nhận đang cất giấu ma túy trong người rồi tự giác lấy từ trong túi quần đùi phía trước bên phải mà H đang mặc ra 01 túi nilon màu trắng được dán băng dính đen bên ngoài, bên trong chứa tinh thể màu trắng giao nộp cho tổ công tác. H khai nhận là ma túy “đá” đang mang đi để tìm nơi sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản, thu giữ vật chứng và đưa tất cả về trụ sở cơ quan để làm rõ.

Tang vật thu giữ của NTH:

- 01 túi nilon bên ngoài dán băng dính màu đen, bên trong chứa tinh thể màu trắng.

- 01 xe máy Wave, BKS: 29S1-221.04.

- 01 điện thoại Samsung Galaxy A72.

Tại bản kết luận giám định số 7640/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng (Bên ngoài dán băng dính màu đen) có khối lượng 1,268 gam là ma túy loại Methamphetamine.”

Tại cơ quan điều tra, NTH khai nhận: Tối ngày 21/10/2024 H lên mạng xã hội Telegram đăng bài muốn tìm mua ma túy đá để sử dụng, sau đó có 01 nam thanh niên đã nhắn tin cho H nói có bán ma túy. H đã đặt mua 2.000.000 đồng tiền ma túy “đá”, hẹn giao ma tuý tại khu vực cầu mới trên đường VTP TX, Hà Nội. Sau đó, H điều khiển xe máy BKS: 2951 – 221.04 đến khu vực cầu mới trên đường VTP gặp 01 nam thanh niên mặc áo chống nắng tối màu, đeo khẩu trang, ngồi trên xe máy kiểu dáng xe Wave. H biết đây là người bán ma túy nên đưa cho anh ta 2.000.000 đồng thì anh ta đưa lại cho 01 túi nilon màu trắng bên ngoài được dán băng dính đen chứa tinh thể màu trắng. Anh ta yêu cầu H xóa hết tin nhắn liên quan đến mua bán ma túy và thoát khỏi nhóm Telegram mà H vào hỏi mua ma túy. Sau đó H cất túi ma túy trên vào túi quần đùi bên phải đang mặc rồi điều khiển xe máy đi tìm nơi sử dụng ma túy. Đến 00 giờ 05 phút ngày 22/10/2024 H đến đầu ngõ 93 VTP, KT, TX, Hà Nội thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt giữ. H khai nhận mục đích cất giấu ma túy để sử dụng cho bản thân, không có mục đích khác.

Đối với người nam giới bán và người giao ma túy cho H. Do H không biết nhân thân lai lịch, nên Cơ quan điều tra không xác minh, làm rõ được người bán ma túy cho H.

Đối với chiếc xe máy BKS: 2951 - 221.04 H điều khiển, H khai là tài sản của bố đẻ là NTH (Sinh năm 1971; HKTT: PD 1, PĐ, GL, Hà Nội). Tối ngày 22/10/2024 H tự lấy xe máy đi mua ma túy anh H không biết. Tra cứu cho kết quả là của chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29S1 - 221.04 có số khung RLHHC1200BY545567, số máy: HC12E - 3345586. Chủ xe là PĐV (Sinh năm 1986; HKTT: LC, XC, ĐA, Hà Nội), xe đăng ký mới năm 2012. Chiếc xe không có trong dữ liệu xe máy vật chứng. Ghi lời khai anh PĐV cho biết: Việt mua và đăng ký chính chủ chiếc xe máy trên năm 2012, đến năm 2022 do không có nhu cầu sử dụng xe máy trên nữa nên Việt đã bán chiếc xe máy trên cho anh NTH với giá 6.000.000 đồng, V viết giấy tờ mua bán và giao đăng ký gốc của xe cho anh H. Hiện tại Việt không còn liên quan đến chiếc xe máy trên nữa. Ghi lời khai anh NTH cho biết đã mua lại chiếc xe máy trên từ anh PĐV. Việc con trai NTH điều khiển xe máy vi phạm pháp luật anh H khai không biết. Anh H xuất trình được giấy tờ mua bán, đăng ký gốc của xe và có đơn đề nghị Cơ quan Công an trả cho anh H chiếc xe máy trên. Xét thấy việc trả cho anh H chiếc xe máy trên không ảnh hưởng đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả chiếc xe máy trên cho anh NTH.

Đối với chiếc điện thoại Samsung, H khai là tài sản H mua để liên lạc với gia đình và liên hệ mua ma túy.

Cáo trạng số 302/CT-VKS ngày 28/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố bị cáo NTH về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận việc bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo NTH từ 20 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2024. Bị cáo không có việc làm thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy tang vật vụ án gồm: - 01 phong bì niêm phong dán kín bên ngoài có chữ ký của giám định viên - LKN, đương sự - NTH, cán bộ CAP - ĐTQ, người chứng kiến - DNQ và đóng dấu đỏ của CAP KT. Bên trong có: 01 túi nilong màu trắng kích thước 5 x 3cm bên ngoài dán băng dính màu đen bên trong chứa tỉnh thể màu trắng có khối lượng 1,268 gam là ma túy loại Methamphetamine (PC09 - CATP Hà Nội trích mẫu giám định 0,192 gam).

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: - 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A72, màu tím, Imei 1: 357843234201129, Imei 2: 353546294201129, bên trong lắp sim 0398528336.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.

Các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Xuân, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật, các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận bị cáo khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, phù hợp với tang vật, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 00 giờ 05 phút ngày 22/10/2024, tại đầu ngõ 93 VTP, KT TX, Hà Nội, tổ công tác Công an phường KT bắt quả tang NTH đang tàng trữ 1,268 gam là ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo NTH đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người trưởng thành, nhận thức rõ tác hại nhiều mặt của ma túy đến sức khỏe và đời sống của con người, bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung cho xã hội.

.Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết giảm nhẹ: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự thể hiện sự khoan H của pháp luật.

Tình tiết tăng nặng: không.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- 01 phong bì niêm phong dán kín bên ngoài có chữ ký của giám định viên

- LKN, đương sự - NTH, cán bộ CAP - ĐTQ, người chứng kiến - DNQ và đóng dấu đỏ của CAP KT. Bên trong có: 01 túi nilong màu trắng kích thước 5 x 3cm bên ngoài dán băng dính màu đen bên trong chứa tỉnh thể màu trắng có khối lượng 1,268 gam là ma túy loại Methamphetamine (PC09 - CATP Hà Nội trích mẫu giám định 0,192 gam) cần tịch thu tiêu huỷ.

- 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A72, màu tím, Imei 1: 357843234201129, Imei 2: 353546294201129, bên trong lắp sim 0398528336, bị cáo sử dụng để mua ma tuý nên cần tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước.

Các vấn đề khác:

Đối với người nam giới bán và người giao ma túy cho H. Do H không biết nhân thân lai lịch, nên Cơ quan điều tra không xác minh, làm rõ được người bán ma túy cho H nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

.Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo NTH phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: - Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

- Điều 47 Bộ luật hình sự ; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

- Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí kèm theo.

Xử phạt: bị cáo NTH 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2024.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy tang vật vụ án gồm: - 01 phong bì niêm phong dán kín bên ngoài có chữ ký của giám định viên - LKN, đương sự - NTH, cán bộ CAP - ĐTQ, người chứng kiến - DNQ và đóng dấu đỏ của CAP KT. Bên trong có: 01 túi nilong màu trắng kích thước 5 x 3cm bên ngoài dán băng dính màu đen bên trong chứa tỉnh thể màu trắng có khối lượng 1,268 gam là ma túy loại Methamphetamine (PC09 - CATP Hà Nội trích mẫu giám định 0,192 gam).

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: - 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A72, màu tím, Imei 1: 357843234201129, Imei 2: 353546294201129, bên trong lắp sim 0398528336.

Hiện các vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/12/2024.

Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo NTH phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ