- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 295/2023/HSST Ngày: 25/9/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Kam Ênuôl
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Công Tình
2. Ông Nguyễn Lập Tiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nữ Hoàng Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tinh – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 307/2023/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 315/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN VĂN H, sinh ngày: 08/10/1972; Tại: tỉnh Thanh Hóa;
Nơi thường trú: Thôn 11, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1950 và con bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1952; Bị cáo có vợ là Trần Thị X, sinh năm 1980 và có 02 con lớn nhất sinh năm 2003 và nhỏ nhất sinh năm 2009. Hiện đều trú tại: Thôn 11, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang tại ngoại – Có mặt;
Người bị hại: Ông Nguyễn Công H (đã chết).
Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1965. Địa chỉ: Thôn C, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Thị Đông P, sinh năm 1996. Địa chỉ: Thôn C, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Văn H đã có giấy phép lái xe ô tô hạng B2 theo quy định. Khoảng 15 giờ ngày 23/01/2023, bị cáo điều khiển xe ô tô hiệu TOYOT FORTUNER, màu đen, biển số 47 - 310.62, chở theo chị Trần Thị X và cháu Nguyễn Văn H, sinh năm 2009 (là vợ và con trai của H) lưu thông tại phần đường bên phải đường liên thôn C, xã E, thành phố B, đi theo hướng từ thôn C, xã E đến xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk với tốc độ khoảng 40 km/h. Khi đi đến khu vực phía trước trụ điện số 477ET M/93/127, thuộc nơi giao nhau cùng mức giữa hai đường liên thôn, do bị cáo điều khiển xe ô tô biển số 47 - 310.62 không giảm tốc độ khi vào ngã tư, thiếu chú ý quan sát nên đã để phía trước xe ô tô biển số 47 - 310.62 do bị cáo điều khiển tông vào phía sau, bên phải của xe gắn máy biển số 47 B – 076.95 do ông Hoàng Công H điều khiển lưu thông trên đường liên thôn C, xã E, theo hướng từ Tổ 3, thôn C đến tổ 15, thôn C (từ bên trái đến so với hướng đi của bị cáo Nguyễn Văn H, đã vào trong khu vực ngã tư và đi gần hết ngã tư), gây tai nạn giao thông. Hậu quả, ông H bị thương nặng, được đưa đến Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên cấp cứu, đến ngày 26/01/2023 thì ông H tử vong; hai phương tiện bị hư hỏng.
Về hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn:
Khu vực nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông thuộc đường liên thôn C, xã E, thành phố B, đây là đường hai chiều, thẳng, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng rộng: 3,50m. Không có vạch sơn phân chia phần đường xe chạy, hai bên ngoài mặt đường là lề đường đất.
Hiện trường vụ tai nạn giao thông tại khu vực ngã tư nơi giao nhau giữa đường liên thôn C, xã E, thành phố B, đường rộng 3,50m, tính theo hướng đi của xe ô tô biển số 47 – 310.62 từ xã E đến xã E, huyện C, với đường liên thôn C, xã E, mặt đường rộng 3,70m tính theo hướng đi của xe gắn máy biển số 47 B – 076.95 từ Tổ 03, thôn C, xã E đến Tổ 15, thôn C, xã E. Không có chướng ngại vật cản trở, che khuất tầm nhìn của người tham gia giao thông.
Quá trình khám nghiệm hiện trường, chọn hướng từ đường liên thôn C, xã E đến xã E, huyện C làm hướng chuẩn, lấy mép đường bên trái đường liên thôn C tính theo hướng chuẩn làm mép đường chuẩn, các số đo tại hiện trường và thể hiện trong sơ đồ hiện trường đều đo vuông góc vào mép đường chuẩn. Chọn gốc dưới trụ điện số 477ET M/93/127 nằm bên trái đường tính theo hướng chuẩn làm mốc cố định. Chọn hướng Bắc làm hướng chính thể hiện trong sơ đồ hiện trường, lấy đơn vị đo là mét (m). Bên phải đường liên thôn C, xã E, tính theo hướng đi của xe gắn máy đến Tổ 15, thôn C (phần đường nằm bên trái tính theo hướng chuẩn), cách mép đường chuẩn 25,35m có biển báo giao thông “Đường giao nhau – phía trước, giao nhau của các tuyến đường cùng cấp trên cùng một mặt phẳng” – “W205a”.
Vị trí các phương tiện, các dấu vết tại hiện trường được đánh số thứ tự, ký hiệu và mô tả cụ thể như sau:
(1) Xe ô tô biển số 47 – 310.62, được xác định lưu thông trên đường liên thôn C (mặt đường rộng 3,5m) tính theo hướng chuẩn, sau vụ tai nạn xe đỗ trên mặt đường, đầu xe quay về hướng đi xã E (hướng Đông Bắc), đuôi xe quay về hướng ngược lại (hướng Tây Nam). Tâm trục bánh trước bên trái cách mép đường chuẩn: 1,55 m; Tâm trục bánh sau bên trái cách mép đường chuẩn 1,45m và cách mốc cố định 6,00m.
(2) Xe gắn máy biển số 47 B – 076.95, được xác định lưu thông trên đường liên thôn C (mặt đường rộng 3,70m) tính theo hướng từ tổ 3 thôn C đến tổ 15, thôn C, xã E (vuông góc với hướng chuẩn), sau vụ tai nạn, xe ngã nghiêng bên trái trên mặt đường tính theo hướng chuẩn, đầu xe quay về hướng lề đường bên phải tính theo hướng chuẩn (hướng Đông Nam), đuôi xe quay về hướng mép đường chuẩn (hướng Tây Bắc). Tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn 3,80 m, tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn: 2,80 m và cách tâm trục bánh trước bên trái xe (1): 5,40 m.
(3) Vết chà lốp, ký hiệu VCL, liền nét, màu đen xám trên mặt đường, tại phần đường bên phải tính theo hướng chuẩn, có kích thước (2,10 x 0,20)m. Điểm đầu vết cách mép đường chuẩn 3,00m và cách tâm trục bánh sau bên trái xe (1): 1,60m; Điểm cuối vết cách mép đường chuẩn: 3,20m.
(4) Vết cày xước, ký hiệu VCX, đứt nét, màu xám, trên mặt đường, tại phần đường bên phải tính theo hướng chuẩn, có kích thước trong diện (5,2 x 0,5)m. Điểm đầu vết cách mép đường chuẩn 3,05m và cách cuối vết (3): 0,25m. Điểm cuối vết nằm dưới gác để chân trước, bên trái xe (2) ở vị trí tiếp giáp với mặt đường.
Căn cứ vào vị trí các phương tiện, các dấu vết tại hiện trường xác định vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 47 – 310.62 và xe gắn máy biển số 47 B – 076.95 tương ứng với mặt đường, tại phần đường bên phải đường liên thôn Cao Thắng tính theo hướng chuẩn, cách mép đường chuẩn: 2,15m, cách điểm đầu vết (4): 1,85 m và cách mốc cố định: 7,05m.
Tại bản kết luận pháp y tử thi số: 77/TTh-TTPY ngày 24/3/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận ông Hoàng Công H:
Dấu hiệu chính qua giám định:
- Choáng chấn thương – Chấn thương ngực bụng kín nặng: Vết sây xước da vùng ngực bên phải và giữa xương ức, kích thước: 20cm x 06cm, có chiều hướng trượt da từ phải sang trái; Vết sây xước da ở vùng ngực trái, kích thước: 10cm x 04cm; Sây xước, bầm tím da ở hố chậu phải, lưng phải, kích thước 14cm x 10cm, tâm vết bầm tím cách gót chân phải 89cm; Gãy nhiều xương sườn; Tràn máu màng phổi (P); Tràn máu ổ bụng; Vỡ gan hạ phân thuỳ VI, VII, VIII; Vỡ nát thận phải (cắt thận phải); Tổn thương mạc treo đại tràng phải và manh tràng gây thiếu máu nuôi dưỡng làm hoại tử đại tràng phải và manh tràng (cắt đại tràng phải và manh tràng, dẫn lưu hồi tràng).
- Các thương tích khác: Gãy xương đòn phải; Gãy hở hai xương cẳng chân (P); Vết sây xước, bầm tím da vùng vai đòn phải, kích thước: 14cm x 10cm; Vết sây xước, bầm tím da vùng chậu đùi trái, kích thước: 15cm x 10cm, tâm vết bầm tím cách gót chân phải 78cm; Vết sây xước mu bàn tay trái, kích thước: 1,5cm x 01cm; Vết rách toác da nham nhở ở 1/3 dưới mặt trong cẳng chân phải đã khâu 4 mũi chỉ rời; Vết sây xước da ở mu bàn chân phải và ngón chân phải, kích thước: 10cm x 07cm; Vết sây xước da cẳng chân và mu bàn chân trái, kích thước: 07cm.
Nguyên nhân tử vong: Ngưng hô hấp, tuần hoàn do Choáng chấn thương điều trị không phục hồi do Chấn thương ngực bụng kín nặng/ Nhiều thương tích do tai nạn giao thông.
Kết quả xét nghiệm tại Bệnh viện đại học Buôn Ma Thuột xác định bị cáo Nguyễn Văn H không có nồng độ cồn (0 mmol/l) và âm tính với các loại chất kích thích. Kết quả xét nghiệm tại Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên xác định ông Hoàng Công H có nồng độ cồn: 34.6 mmol/L = 159,45 mg/100ml.
Tại Bản Kết luận giám định số 676/KL-KTHS ngày 06/6/2023 kết luận: Không đủ cơ sở xác định tốc độ xe ô tô biển số 47 – 310.62 khi xảy ra tai nạn.
Tại bản cáo trạng số 313/CT-VKS ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra và theo nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng số 313/CT-VKS ngày 14 tháng 9 năm 2023, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
* Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 591 Bộ luật dân sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận đại diện gia đình của người bị hại là bà Nguyễn Thị Nhung và bị cáo Nguyễn Văn H đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường số tiền 86.000.000 đồng và không ai yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Về xử lý vật chứng:
+ Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 xe ô tô biển số 47 – 310.62 nhãn hiệu: TOYOT , số loại: FORTUNER, màu sơn: Đen là tài sản của bị cáoNguyễn Văn H;
+ Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Hoàng Thị Đông P là chủ sở hữu hợp pháp 01 xe gắn máy biển số 47 B – 076.95, nhãn hiệu: SYM, loại xe: ANGELA, màu sơn: Trắng xanh.
+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số: 660158010153, mang tên Nguyễn Văn H.
Bị cáo Nguyễn Văn H không có ý kiến tranh luận gì thêm chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đại diện hợp pháp cho người bị hại bà Nguyễn Thị N: Không có ý kiến gì tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình thực hiện các quyết định điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không xuất trình thêm chứng cứ tài liệu gì, bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 15 giờ ngày 23/01/2023, Nguyễn Văn H điều khiển xe ô tô biển số: 47 - 310.62, lưu thông tại phần đường bên phải đường liên thôn C, xã E, thành phố B, theo hướng từ thôn C, xã E đến xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Khi đến khu vực phía trước trụ điện số 477ET M/93/127, thuộc nơi giao nhau cùng mức giữa hai đường liên thôn C, do Nguyễn Văn H điều khiển xe ô tô biển số 47 - 310.62 khi đi vào ngã tư giao nhau, không giảm tốc độ, thiếu chú ý quan sát nên đã để phía trước xe ô tô biển số 47 - 310.62 tông vào phía sau, bên phải của xe gắn máy biển số 47 B – 076.95 do ông Hoàng Công H điều khiển lưu thông trên đường liên thôn C, xã E, theo hướng từ Tổ 3, thôn C đến tổ 15, thôn C, gây tai nạn giao thông. Hậu quả, ông Hoàng Công H tử vong.
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà.
. Lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, chứng minh đầy đủ các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, như vậy quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a) Làm chết người”.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông cũng như gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo phải nhận thức được rằng và biết rõ khi điều khiển xe ôtô tham gia giao thông phải tuân thủ các nguyên tắc theo quy định của Luật giao thông đường bộ. Song, do thiếu ý thức tham gia giao thông, thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ và xem thường tính mạng sức khỏe của người khác, dẫn đến bị cáo gây tai nạn hậu quả làm một người chết. Tuy nhiên, xét trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, là lao động chính trong gia đình, do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà để bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe.
Đối với ông Hoàng Công H là người có hành vi điều khiển xe gắn máy biển số 47 B – 076.95 lưu thông trên đường, trong máu có nồng độ cồn là 159,45 mg/100ml. Sau tai nạn giao thông, ông H đã tử vong sau nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột không đề cập xử lý, là phù hợp.
. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại, được gia đình người bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại làm đơn bãi nại, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo trong khi lượng hình, để giảm nhẹ một phần hình phạt, đồng thời thể hiện được chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 591 Bộ luật dân sự:
Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận đại diện gia đình của người bị hại là bà Nguyễn Thị N và bị cáo Nguyễn Văn H đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường số tiền 86.000.000 đồng và không ai yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Về xử lý vật chứng:
+ Quá trình điều tra xác định 01 xe ô tô biển số 47 – 310.62 nhãn hiệu: TOYOTA, số loại: FORTUNER, màu sơn: Đen là tài sản của bị cáo Nguyễn Văn H; 01 xe gắn máy biển số 47 B – 076.95, nhãn hiệu: SYM, loại xe: NGEL , màu sơn: Trắng xanh là tài sản của chị Hoàng Thị Đông P (là con gái ruột của ông H) cho ông H mượn làm phương tiện đi lại. Ngày 20/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bị cáo và chị P nhận quản lý sử dụng là phù hợp.
Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số: 660158010153, mang tên Nguyễn Văn H, là giấy tờ của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk giám sát, quản lý và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự.
* Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 591 Bộ luật dân sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận đại diện gia đình của người bị hại là bà Nguyễn Thị N và bị cáo Nguyễn Văn H đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường số tiền 86.000.000 đồng và không ai yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Về xử lý vật chứng:
+ Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 xe ô tô biển số 47 – 310.62 nhãn hiệu: TOYOT , số loại: FORTUNER, màu sơn: Đen là tài sản của bị cáoNguyễn Văn H;
+ Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Hoàng Thị Đông P là chủ sở hữu hợp pháp 01 xe gắn máy biển số 47 B – 076.95, nhãn hiệu: SYM, loại xe: ANGELA, màu sơn: Trắng xanh.
+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số: 660158010153, mang tên Nguyễn Văn H.
(Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhân vật chứng giữa Cơ quan Công an thành phố Buôn Ma Thuột và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột ngày 21/9/2023).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án và bản án được niêm yết hợp lệ. * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - VKSND Tp. Buôn Ma Thuột; - Công an Tp. Buôn Ma Thuột; - Chi cục THA DS Tp. Buôn Ma Thuột; - Chánh án TAND Tp. Buôn Ma Thuột; - Bị cáo; - Bị hại; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Y Kam Ênuôl |