vanban.org

Bản án 294/2026/QĐST-DS — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M đối với ông Vương Đình M1.

Xử: buộc ông Vương Đình M1 phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền là 28.300.000đ ( hai mươi tám triệu ba trăm nghìn đồng) Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M đối với ông Vương Đình M1.
  • Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự Kết quả biểu; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 294/2026/QĐST-DS
Ngày 18/6/2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Kinh Luân Các Hội thẩm nhân dân: Phan Thị Huệ

Bà Lê Thị Hồng

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1-Đà Nẵng.

Ngày 18/6/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Đà Nẵng - C L, phường H, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 259/2026/DS-ST ngày 03/4/2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1037/2026/QĐST-DS ngày 02 tháng 6 năm 2026; giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị M. Sinh năm 1965. Địa chỉ : Số G Kha V, phường H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt

* Bị đơn: ông Vương Đình M1, sinh năm 1965. Địa chỉ: E N, phường H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị M trình bày:

Trên cơ sở quen biết nên vào ngày 22/01/2023, ông Vương Đình M1 có mượn của tôi số tiền 28.360.000đồng, khi vay ông M1 có viết giấy mượn tiền hẹn sẽ trả sau 03 tháng nhưng từ đó cho đến nay tôi đã nhiều lần hối thúc nhưng ông M1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Tôi xác định tính đến thời điểm hiện nay ông M1 còn nợ tôi số tiền gốc là 28.300.000đ và yêu cầu ông M1 phải trả số lãi tạm tính từ ngày 23/3/2023 đến ngày 11/3/2026 là 8.430.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, tôi rút yêu cầu tính lãi và đề nghị Tòa án buộc bà H trả lại tôi số nợ gốc là 28.300.000đ.

* Trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Vương Đình M1 trình bày:

Tôi xác nhận vào ngày 22/01/2023, tôi có mượn của bà Nguyễn Thị M số tiền 28.360.000 đồng. Trong thời gian qua năm tôi đã nhiều lần trả lãi cho bà M. Tôi xác định hiện nay chỉ còn nợ bà Nguyễn Thị M số tiền 2.000.000đ và xin trả dần cho đến khi trả hết nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm quyền giải quyết vụ án: Do địa chỉ của bị đơn đang cư trú tại phường H, thành phố Đà Nẵng nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1- Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn là ông Vương Đình M1 phải trả số tiền 28.300.000đồng nợ gốc. HĐXX xét thấy: ngày 22/01/2023 bà Nguyễn Thị M ông Vương Đình M1 vay số tiền số tiền 28.300.000đ. Khi vay mượn tiền bà H có viết giấy mượn tiền và hẹn sẽ trả sau 3 tháng nhưng quá thời hạn trả nợ mặc dù bà Nguyễn Thị M đã nhiều lần đòi tiền nhưng ông M1 vẫn không chịu trả, cố tình trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình.

Qua xem xét đánh giá các tài liệu chứng cứ và lời khai của nguyên đơn tại phiên tòa thể hiện việc giao dịch vay mượn tiền giữa bà Nguyễn Thị M với ông Vương Đình M1 được thực hiện dựa trên sự tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật nên đây là giao dịch dân sự có hiệu lực, ràng buộc điều kiện thỏa thuận giữa các bên tham gia và được pháp luật bảo vệ. Tại phiên tòa bị đơn là là ông Vương Đình Minh xác N có vay số tiền trên nhưng ông đã trả nhiều lần cho bà M nên chỉ còn nợ lại số tiền 2.000.000 đồng nhưng ông không đưa ra được chứng cứ để chứng minh là đã có trả khoản tiền trên cho bà M. Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình thực hiện việc vay tài sản, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với nguyên đơn nên căn cứ vào các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự buộc ông Vương Đình M1 phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ gốc là 28.300.000đ cho bà Nguyễn Thị M là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị M rút yêu cầu tính lãi. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện trên là hoàn toàn tự nguyện nên căn cứ Điều 244 BLTTDS Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu này.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn ông Vương Đình M1 phải chịu án phí dân sự nhưng được miễn án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 117, 463, 466, của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 147, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M đối với ông Vương Đình M1.

Xử: buộc ông Vương Đình M1 phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền là 28.300.000đ ( hai mươi tám triệu ba trăm nghìn đồng)

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M đối với việc yêu cầu ông Vương Đình M1 phải thanh toán số tiền lãi là 8.430.000 đồng

3. Án phí dân sự sơ thẩm: ông Vương Đình M1 phải chịu án phí dân sự nhưng được miễn án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

4. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 18/6/2026.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ