vanban.org

Bản án 294/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 28/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, tạm giữ là ngày 29/6/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chí Tính - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 199 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 294/2022/HS-ST
Ngày: 28.10.2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Trương Hoàng Chân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Đăng Khoa

2. Bà Trần Lệ Nga

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Thiềm Văn Ty - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 176/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 9 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 251/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Chí T, sinh ngày 01/01/1991; Nơi sinh: thành phố Rạch G, tỉnh Kiên Gi; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: G3 Ngô Tất T, phường Vĩnh Q, thành phố Rạch G, tỉnh Kiên Gi; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Tr và bà Đoàn Thị L; Có vợ: Nguyễn Việt T, sinh năm 1992; Con: 01 người, sinh năm 2019; Chị ruột: 02 người, lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1987; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 13/8/2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành tại Trại giam Kênh 7- Bộ Công an, đến ngày 18/01/2018 chấp hành xong. Đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/6/2022 cho đến nay. (Có mặt).

* Người chứng kiến:

+ Phạm Hoàng L, sinh năm 1988. Địa chỉ: ấp Trung M, xã Mỹ L, huyện Hòn Đ, tỉnh Kiên Gi.

+ Đinh Trí Đ, sinh năm 1989. Địa chỉ: Số 350, đường Châu Văn L, phường Vĩnh L, thành phố Rạch G, tỉnh Kiên Gi.

(Người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 05 giờ 30 phút ngày 29/6/2022, tại khu vực ngã ba Phạm Phú Th - Học L, phường Vĩnh B, thành phố Rạch G. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá phối hợp với Công an phường Vĩnh B bắt quả tang đối tượng Nguyễn Chí T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của Nguyễn Chí T 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu HERO, bên trong có 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ, bên trong có chứa 07 viên nén màu vàng và 02 (hai) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ, bên trong có chứa các chất rắn màu trắng không đồng nhất.

Quá trình điều tra đã xác định, Nguyễn Chí T là người nghiện ma túy (loại ma túy đá) từ đầu năm 2022 cho đến ngày bị bắt nhưng không sử dụng thường xuyên. Vào ngày 26/6/2022 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Tính dùng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số imeil: 357274096994074 gọi điện bằng ứng dụng mạng xã hội Zalo để hỏi mua ma túy của người phụ nữ tên Ng (không rõ tên thật, địa chỉ) thì được Ng đồng ý và hẹn gặp ở khu vực công viên thuộc phường Vĩnh B, thành phố Rạch G, tại đây Ng bán cho T 07 viên thuốc lắc và 02 bịch ma túy dạng khay với số tiền 6.300.000 đồng. Sau khi có ma túy, T mang về nhà cất giữ, đến khoảng 05 giờ 30 phút ngày 29/6/2022 do muốn sử dụng ma túy nên T lấy số ma túy trên bỏ vào bao thuốc lá hiệu HERO rồi cầm trong lòng bàn tay phải sau đó thuê xe ôm để đi tìm nơi sử dụng, khi đi đến khu vực ngã ba đường Phạm Phú Th - Học l, phường Vĩnh B thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá phối hợp với Công an phường Vĩnh B bắt quả tang cùng tang vật.

Trong quá trình điều tra, truy tố Nguyễn Chí T thừa nhận hành vi phạm tội và phối hợp tốt với Cơ quan điều tra để làm rõ nội dung vụ án.

* Vật chứng thu được:

+ Thu giữ trong lòng bàn tay phải của Nguyễn Chí T 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu HERO, bên trong có 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ, bên trong có chứa 07 viên nén màu vàng và 02 (hai) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ, bên trong có chứa các chất rắn màu trắng không đồng nhất.

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số imeil: 357274096994074.

* Tại bản kết luận giám định số: 609/KL-KTHS, ngày 06/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận:

+ 07 (bảy) viên nén màu vàng chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định không phải là chất ma túy. Khối lượng mẫu gửi giám định là 3,4384 gam.

+ Các hạt chất rắn màu trắng không đồng loại nhất chứa trong 02 (hai) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 4,0987 gam.

Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 35, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại bản Cáo trạng số: 195/CT-VKSRG ngày 22/9/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Chí T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không có nghề nghiệp, không có mức thu nhập ổn định.

Về vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng, cấm tàng trữ, lưu hành, gồm:

+ 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số: 609/2022 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng N người chứng kiến niêm phong Võ Thị Thủy T và hình dấu tròn của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

+ 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu HERO.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số imeil: 357274096994074.

Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 163, ngày 26/8/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Chí T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá đã truy tố. Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và không có ý kiến gì khác.

Tại phần nói lời sau cùng bị cáo T trình bày: Bị cáo đã nhận biết được hành vi của mình là sai trái và vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sữa chữa sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ và tình tiết định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo Tính đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai nhận tội tại Cơ quan điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang; tài liệu, đồ vật thu giữ trực tiếp tại hiện trường; lời khai nhận của người chứng kiến; kết luận giám định của các cơ quan có thẩm quyền và phù hợp các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được làm rõ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Nguyễn Chí T là đối tượng nghiện ma túy, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào ngày 26/6/2022 Tính đã đặt mua của một người phụ nữ tên Ng (chưa xác định được họ tên thật và địa chỉ) 07 viên thuốc lắc và 02 bịch ma túy dạng khay với số tiền 6.300.000 đồng. Sau khi có ma túy, T mang về nhà cất giữ. Đến khoảng 05 giờ 30 phút ngày 29/6/2022 T lấy số ma túy trên bỏ vào bao thuốc lá hiệu HERO rồi cầm trong lòng bàn tay phải, sau đó thuê xe ôm chở đi để tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu vực ngã ba đường Phạm Phú Th - Học l, phường Vĩnh B, thành phố Rạch G thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá phối hợp với Công an phường Vĩnh B bắt quả tang cùng tang vật. Qua giám định, các hạt chất rắn màu trắng không đồng loại nhất chứa trong 02 (hai) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 4,0987 gam. 07 (bảy) viên nén màu vàng chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định không phải là chất ma túy. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Chí T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo là vi phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, việc tàng trữ, sử dụng ma túy là tiền đề tạo ra nhiều tệ nạn xấu, đặc biệt là dễ dẫn đến nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, làm tăng thêm sự phức tạp về tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến bản thân bị cáo nói riêng và cộng đồng xã hội nói chung. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Về nhân thân, bị cáo là người có nhân thân xấu.

Sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của xã hội cho hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Xét thấy, bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Tuy nhiên, với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong thời gian mới đảm bảo mục đích trừng trị, răn đe, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt sau này, sống có ích cho xã hội và làm gương cho người khác có ý định phạm tội.

Hội đồng xét xử xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thành phố Rạch Giá về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với người phụ nữ tên Ng (không rõ tên thật, địa chỉ) là người đã cho ma túy cho T để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá tiếp tục điều tra làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau nên HĐXX miễn xét.

Về các vấn đề khác:

- Về vật chứng và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng, cấm tàng trữ, lưu hành, gồm:

+ 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số: 609/2022 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng N người chứng kiến niêm phong Võ Thị Thủy T và hình dấu tròn của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

+ 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu HERO.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số imeil: 357274096994074.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 188/QĐ-VKS, ngày 22 tháng 9 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng: điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, tạm giữ là ngày 29/6/2022.

3. Về vật chứng và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng, cấm tàng trữ, lưu hành, gồm:

+ 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số: 609/2022 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng Nam người chứng kiến niêm phong Võ Thị Thủy Tiên và hình dấu tròn của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

+ 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu HERO.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số imeil: 357274096994074.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 188/QĐ-VKS, ngày 22 tháng 9 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá.

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 6, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

+ Bị cáo Nguyễn Chí T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Kiên Giang;

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND TP. Rạch Giá;

- Cơ quan THA Dân sự TP. Rạch Giá;

- Công an TP. Rạch Giá;

- Sở tư pháp tỉnh Kiên Giang;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ.

Trương Hoàng Chân TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ

--------------------------------

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

* Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Hoàng Chân.

* Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Bé Em và bà Đoàn Thị Liễu.

Căn cứ vào Điều 199 và Điều 222 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Vào hồi 09 giờ 30 phút, ngày 28/10/2022. Tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá. Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với bị cáo: Nguyễn Chí Tính.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau :

1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Chí Tính phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Kết quả biểu quyết : 3/3 .

2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng: điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí Tính 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam giữ là ngày 29/6/2022.

Kết quả biểu quyết : 3/3.

3. Về các vấn đề khác:

3.1 Về vật chứng và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng, cấm tàng trữ, lưu hành, gồm:

+ 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số: 609/2022 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng Nam người chứng kiến niêm phong Võ Thị Thủy Tiên và hình dấu tròn của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

+ 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu HERO.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số imeil: 357274096994074.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 188/QĐ-VKS, ngày 22 tháng 9 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá.

3.2. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 6, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

+ Bị cáo Nguyễn Chí Tính phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

3.3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

Biên bản kết thúc vào lúc 15 giờ 00 phút cùng ngày, có đọc lại cho mọi người cùng nghe và đồng ý ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Bé Em Đoàn Thị Liễu

Trương Hoàng Chân

Cỡ chữ