vanban.org

Bản án 294/2017/DS-PT — Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 30/11/2017 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/11/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Không chấp nhận kháng cáo của ông Dương Châu Th; bà Dương Thị Kim T1 và bà Đỗ Thị Thu D1.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - về việc đòi nhà đất đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm... — án dân sự — "Chùa T kiện Dương Thị Kim D"
  • Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận kháng cáo của ông Dương Châu Th; bà Dương Thị Kim T1 và bà Đỗ Thị Thu D1.
  • Căn cứ chính? Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 294/2017/DS-PT
Ngày 30 - 11 - 2017
V/v Tranh chấp đòi nhà và đất cho thuê.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Tú Oanh

Các thẩm phán:

Ông Đỗ Đình Thanh

Ông Phan Đức Phương

- Thư ký phiên toà: Bà Hồ Diệu Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Cao Minh Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở, Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 247/2016/TLPT-DS ngày 21 tháng 10 năm 2016 về việc “Tranh chấp đòi nhà và đất cho thuê”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 528/2016/DS-ST ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 622/2016/QĐXX-PT ngày 21 tháng 12 năm 2016 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chùa T

Địa chỉ: đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Văn B, sinh năm 1947; Địa chỉ: đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh - Có mặt.

* Bị đơn:

1/ Bà Dương Thị Kim D, sinh năm 1949; Địa chỉ: G STREET, SP, V, AUSTRALIA.

2/ Bà Dương Thị Kim T1, sinh năm 1952; Địa chỉ: đường A1, Phường X1, thành phố M, tỉnh Tiền Giang – Có mặt.

3/ Bà Dương Thị Kim Y, sinh năm 1959; Địa chỉ: đường T3, phường T4, Quận Y1, Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt.

4/ Ông Dương Châu T2, sinh năm 1962; Địa chỉ thường trú: đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ cư trú: đường D3, Phường X2, Quận Y2, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

5/ Ông Dương Châu S, sinh năm 1954; Địa chỉ: đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

6/ Bà Dương Thị Kim H, sinh năm 1957; Địa chỉ: đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

7/ Bà Dương Thị Kim U, sinh năm 1964; Địa chỉ: đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

8/ Ông Dương Châu Th, sinh năm 1967; Địa chỉ: đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt.

9/ Bà Dương Thị Kim A, sinh năm 1969; Địa chỉ: đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Đỗ Thị Thu D1, sinh năm 1969; Địa chỉ: đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

Uỷ quyền cho bà Nguyễn Dương Ngọc B1, sinh năm 1981; Địa chỉ: Chung cư L1, phường T5, quận B1, Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt.

2/ Ông Võ Văn L, sinh năm 1964; Địa chỉ thường trú: đường T6, Phường X3, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ tạm trú: đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

3/ Ông Võ Hữu Nh, sinh năm 1991; Địa chỉ: đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

4/ Ông Nguyễn Tấn H1, sinh năm 1994; Địa chỉ: đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

5/ Ông Nguyễn Tấn S1, sinh năm 1963; Địa chỉ thường trú: ấp M1, xã M2, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Địa chỉ cư trú: đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

6/ Ông Nguyễn Tấn Ph, sinh năm 1986; Địa chỉ: đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

7/ Ông Dương Đỗ Anh V, sinh năm 1996; Địa chỉ: đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

8/ Trẻ Võ Hữu Kh, sinh năm 2004.

Người đại diện theo pháp luật của trẻ Khang: Bà Dương Thị Kim A, sinh năm 1969.

Cùng địa chỉ: đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt.

9/ Bà Nguyễn Thị Kiều O – Vắng mặt.

10/ Trẻ Nguyễn Hoàng Phương Ngh, sinh năm 2013.

Người đại diện hợp pháp của trẻ Nghi: Bà Nguyễn Thị Kiều Oanh.

Cùng địa chỉ: đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

11/ Ban trị sự Thành hội Phật giáoThành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Hòa thượng Thích Trí Q – Chức vụ: Trưởng Ban trị sự.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn B, sinh năm 1947.

Địa chỉ: đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt.

* Người kháng cáo: Bà Dương Thị Kim T1, ông Dương Châu Th (có bà Bùi Thị Tuyết Kh1 đại diện kháng cáo), bà Đỗ Thị Thu D1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn Chùa T có người đại diện theo ủy quyền là ông Phạm Văn B trình bày:

Chùa T yêu cầu các bị đơn là các con của ông Dương Châu M gồm các ông bà Dương Châu Th, Dương Châu S, Dương Châu T2, Dương Thị Kim D, Dương Thị Kim H, Dương Thị Kim A, Dương Thị Kim Y, Dương Thị Kim U và Dương Thị Kim T1 trả lại nhà đất tọa lạc tại đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh, diện tích là 182,2m2 cho Chùa T (là một phần diện tích trong bằng khoán 211 Chợ Lớn – Cây Mai do Chùa T

).

Nguồn gốc nhà đất nêu trên thuộc lô đất có diện tích 722m2 tọa lạc tại đường L2, Chợ Lớn (sau

H2 – Bằng khoán 211 Chợ Lớn – Cây Mai do Chùa T đứng bộ), nay có một phần mang đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh với diện tích 182,2m2

-

03/9/2004 của Ủy ban nhân dân Phường X, Quận Y

539,8m2 do Phân Viện MD

901 đường H, Phường X, Quận Y, T

-

03/9/2004 của Ủy ban nhân dân Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh). Hai căn nhà 901 và 903 đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh

Giáo hội Phật giáo Việt Nam do Chùa T là người đứng bộ. Tuy nhiên,

, Chùa T

903 đường H

g X,

Y, T

182,2m2

MD

901 đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh, Chùa T

.

Ngày 20/4/1960, hòa thượng Võ Văn Th1, là trụ trì Chùa T lúc bấy giờ, đã lập giấy giao kèo cho ông Tăng Thọ Đ thuê diện tích đất là 672m2 (14m x 48m) trong Bằng khoán số 211 Chợ Lớn – Cây Mai và một miếng đất nhỏ sát phía sau có diện tích là 50m2, với thời hạn thuê là 20 năm. Giá thuê là 800 đồng/tháng. Hai bên thỏa thuận người mướn đất được quyền khai thác, xây dựng nhà xưởng trên đất, được quyền cho mượn, sang nhượng đất. Khi người mướn đất cần cất nhà hoặc sửa chữa gì trên đất phải được sự đồng ý của người cai quản đất. Khi hết thời hạn thuê thì những công trình, kiến trúc xây dựng trên đất đều thuộc quyền sở hữu của Chùa T

, ông

nhà ở.

Ngày 20/6/1962, do không đủ khả năng tiếp tục thuê, ông Tăng Thọ Đ đã sang nhượng cho ông Dương Châu M

24/1/1968, ông M

là: Sau khi hết thời hạn thuê là 20 năm thì toàn bộ tài sản, công trình xây dựng trên đất thuộc sở hữu của bên cho thuê là Chùa T.

Năm 2010, thời hạn thuê đất đã hết, Chùa T yêu cầu ông Dương Châu M cùng các con của ông M thực hiện đúng hợp đồng thuê, giao trả đất và các tài sản trên đất cho Chùa T nhưng vẫn không trả. Ngoài ra, ông M

.

đã

n nhân dân

, T

ông M.

Tại biên bản hòa giải ngày 15/4/2010 và ngày 06/5/2010 của Ủy ban nhân dân Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh, ông Dương Châu M và ông Dương Châu S (là con trai của ông M) xác nhận đang ở trên đất thuê của Chùa T nhưng hiện nay gia đình gặp khó khăn về nhà ở nên yêu cầu được tiếp tục ở lại trong hai năm để tìm nơi ở mới. Hết thời hạn hai năm, gia đình ông M vẫn không thực hiện cam kết. Tháng 10/2012, ông Dương Châu M chết, các con ông M

, không đồng ý trả lại nhà đất trên cho

.

, Chùa T

cầu các con của ông Dương Châu M gồm ông Dương Châu S, ông Dương Châu T2, ông Dương Châu Th, bà Dương Thị Kim D, bà Dương Thị Kim T1, bà Dương Thị Kim H, bà Dương Thị Kim Y, bà Dương Thị Kim U và bà Dương Thị Kim A và những người đang ở tại nhà đất nêu trên trả lại cho Chùa T

đường H, Phường X, Quận Y, T

182,2m2. Chùa T hỗ trợ chi phí di dời là 1.000.000đồng/m2 tính trên diện tích sàn xây dựng, tổng cộng là 182.200.000 đồng.

* Bị đơn – ông Dương Châu S trình bày:

Nhà và đất tọa lạc tại đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh trước đây do cha mẹ ông xây dựng trên đất thuê của Chùa T. Việc thuê đất do cha ông là ông Dương Châu M thỏa thuận với ông Tăng Thọ Đ và Chùa T vào năm 1968, các con không biết. Hơn 10 năm nay, gia đình đã gửi đơn đến các cấp chính quyền Trung ương và Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị hỗ trợ chỗ ở cho gia đình ông để trả đất lại cho Chùa T nhưng chưa được giải quyết. Tháng 10/1975, ông Dương Châu M đã hiến tài sản cho Nhà nước gồm trường dạy nghề Châu Minh tại đường H2 và xưởng sửa chữa ôtô đường H2.

Căn nhà nêu trên do cha ông là ông Dương Châu M

, ông đồng ý trả đất cho Chùa T nhưng yêu cầu cho thêm thời gian để chờ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hỗ trợ về chỗ ở phù hợp. Ông đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

* Bị đơn – ông Dương Châu Th trình bày:

Ông Th không đồng ý trả nhà đất tọa lạc tại đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh cho Chùa T vì nhà đất nêu trên do cha ông Th là Dương Châu M và gia đình đã cư trú và xây dựng nhà từ năm 1962 đến nay. Ngoài căn nhà này, gia đình ông Th không có nơi nào khác để ở. Trường hợp phải trả lại nhà đất cho Chùa T, ông Th có yêu cầu phản tố, yêu cầu Chùa T hỗ trợ các khoản chi phí sau:

- Trị giá xây dựng nhà còn 50% là 1.093.000.000 đồng;

- Tiền ba lần sửa chữa nhà: Lần 01 là 175.000.000 đồng; Lần 02 là 245.000.000 đồng; Lần 03 là 175.000.000 đồng;

- Tiền công sức giữ gìn và bảo quản nhà là 1.800.000.000 đồng;

- Tiền di dời tìm nơi ở mới là 500.000.000 đồng;

- Tiền ổn định mất thu nhập trong thời gian tìm chỗ ở là 120.000.000 đồng.

Tổng cộng chi phí yêu cầu Chùa T hỗ trợ là 4.108.000.000 đồng.

* Bị đơn – bà Dương Thị Kim U trình bày:

Bà không đồng ý trả nhà đất tọa lạc tại đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh cho Chùa T vì nhà đất nêu trên do cha bà là Dương Châu M và gia đình đã cư trú và xây dựng nhà từ năm 1962 đến nay và là nơi ở duy nhất.

*

– ông Dương Châu T2

:

đường H

T

đường H,

, T

.

* Bị đơn – bà Dương Thị Kim A trình bày:

Bà yêu cầu được tiếp tục ở lại nhà đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, bà không còn yêu cầu khác trong vụ án này.

* Bị đơn – bà

:

đường H,

, T cha mẹ là ông Dương Châu M

.

*

–

1 trình bày:

Năm 1962, cha của bà là ông Dương Châu M xây dựng căn nhà đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1968, cha bà đứng tên xin xây dựng, sửa chữa căn nhà. Năm 1974 có xây dựng, sửa chữa lại. Bà yêu cầu cho gia đình bà được tiếp tục ở lại căn nhà và không tranh chấp quyền sở hữu nhà với Chùa T. Bà yêu cầu được vắng mặt tại các buổi làm việc, hòa giải và xét xử của Tòa án nhân dân các cấp. Ngoài ra, bà không còn yêu cầu nào khác.

* Bị đơn – bà Dương Thị Kim Y trình bày:

Bà yêu cầu Chùa T để nhà đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh cho gia đình bà ở vì đó là tài sản của cha mẹ bà để lại. Bà yêu cầu được vắng mặt tại các buổi hòa giải, xét xử của Tòa án. Ngoài ra, bà không còn yêu cầu nào khác trong vụ án này.

*

– bà Đỗ Thị Thu D1 trình bày:

Bà là vợ của ông Dương Châu Th, bà và ông Th đã chung sống tại nhà đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh hơn 20 năm nay. Đây là nhà do cha mẹ chồng của bà tạo lập nên không đồng ý trả lại cho Chùa T. Bà yêu cầu được tiếp tục sinh sống tại nhà này.

*

–

:

Ông là chồng của bà Dương Thị Kim U. Nhà đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh do cha mẹ vợ tạo lập nên ông sinh sống tại đây. Ông xin vắng mặt khi Tòa hòa giải và xét xử.

*

–

20/11/

:

;

t

đường H, Phư

, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 182,2m2

,

.

1416/TATP-TDS ng

–

đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. người có

: Nhà đất tọa lạc tại đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh có hiện trạng, vị trí giống hiện trạng, vị trí do ông Dương Châu M tiến hành đo vẽ và nộp Bản vẽ sơ đồ nhà đất do Công ty TNHH Dịch vụ - Thương mại – Đo đạc M lập ngày 06/10/2003 cho Ủy ban nhân dân Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh để hợp thức hóa nhà vào năm 2003.

-

-

19/01/2

n dân

, T

n nhân dân

, T

đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

n nhân dân

, T

Dương Châu M

15/12/1977; Bản vẽ sơ đồ nhà đất do Công ty TNHH Dịch vụ - Thương mại – Đo đạc M

182,2m2

Đ

Dương Châu M

-

t

Dương Châu M.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 528/2016/DS-ST ngày 31 tháng 5 năm 2016, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Áp dụng Điều 256, khoản 2 Điều 305 của Bộ luật dân sự năm 2005;

2009.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn -

về việc đòi nhà đất đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

Dương Châu Th, Dương Châu S, Dương Châu T2, Dương Thị Kim D, Dương Thị Kim H, Dương Thị Kim A, Dương Thị Kim Y, Dương Thị Kim U, Dương Thị Kim T1 cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các ông bà Đỗ Thị Thu D1, Võ Văn L, Võ Hữu Nh, Nguyễn Tấn H1, Nguyễn Tấn S1, Nguyễn Tấn Ph, Dương Đỗ Anh V, Nguyễn Thị Kiều O và các trẻ Võ Hữu Kh, Nguyễn Hoàng Phương Ngh trả nhà đất tọa lạc tại đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc thửa đất số 02, tờ bản đồ 05 (BĐĐC) P9Q6, có diện tích là 182,2m2 theo Bản vẽ sơ đồ nhà đất do Công ty TNHH Dịch vụ - Thương mại – Đo đạc M lập ngày 06/10/2003. là 182.200.000

(một trăm tám mươi hai triệu hai trăm ngàn đồng).

.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành tại thời điểm thanh toán.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, việc áp dụng Luật Thi hành án dân sự trong giai đoạn thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 09/6/2016, bà Bùi Thị Tuyết Kh1 (đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Dương Châu Th) có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 13/6/2016, bị đơn bà Dương Thị Kim T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Thu D1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, ông Dương Châu Th, bà Dương Thị Kim T1 và người đại diện theo ủy quyền của bà Đỗ Thị Thu D1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn không rút đơn khởi kiện. Các bên đường sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông Th, bà T1 và bà D2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xét kháng cáo của ông Th, bà T1 và bà D2, Hội đồng xét xử thấy: Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chùa T, buộc bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đang cư trú trong ngôi nhà đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh trả lại nhà đất nêu trên cho Chùa T là có căn cứ, bởi lẽ:

- Nguồn gốc lô đất là của Chùa T đứng bộ và cho ông Tăng Thọ Đ thuê từ năm 1960, với thời hạn thuê 20 năm. Khi thuê đất ông Tăng Thọ Đ đã làm giao kèo với nội dung: “Khi hết thời hạn thuê thì những công trình kiến trúc trên đất thuộc sở hữu của bên cho thuê là Chùa T…”.

- Khi nhận sang nhượng quyền sử dụng đất của ông Tăng Thọ Đ, ông Dương Châu M biết rõ sự giao kèo của ông Điền với Chùa T, cụ thể ngày 24/01/1968 ông M đã ghi vào tờ giao kèo: “Tôi thừa nhận những điều kiện trong tờ giao kèo này…”. Có nghĩa là ông M đồng ý nhận sang nhượng quyền sử dụng đất và chấp nhận giao trả cho Chùa toàn bộ tài sản có trên đất vô điều kiện.

- Tại đơn tình nguyện bàn giao xưởng sửa chữa hệ thống nhiên liệu máy dầu cặn Dương Châu M đề ngày 24/6//1976, ông Dương Châu M khẳng định tại điều 4: “… Riêng phần nhà đất của chúng tôi ở chánh thức tại số 275 đường Hùng Vương, Thành phố Hồ Chí Minh gồm 3 tầng lầu là thuộc tài sản riêng của gia đình chúng tôi thì gia đình chúng tôi được trọn quyền sử dụng…”. Cho nên có thể xác định nhà đất tại đường H không thuộc tài sản hiến tặng cho Nhà nước theo như lời trình bày của các bị đơn.

- Năm 1987, khi kê khai nhà đất ông M vẫn tiếp tục nhìn nhận quyền sử dụng đất là của Chùa T.

- Năm 2010, khi Uỷ ban nhân dân Phường X, Quận Y giải quyết yêu cầu đòi nhà, đất của Chùa T thì chính ông M thừa nhận đang ở trên đất thuê của Chùa nhưng do gia đình đang gặp khó khăn về nhà ở nên yêu cầu được tiếp tục ở 2 năm để có điều kiện tìm nơi ở mới. Vì vậy, nay những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng cảu ông M không có lý do gì để tiếp tục chiếm dụng tài sản của Chùa T.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy kháng cáo của ông Th, bà T1, bà D2 là không có căn cứ để chấp nhận. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Th, bà T1, bà D2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự,

1/ Không chấp nhận kháng cáo của ông Dương Châu Th; bà Dương Thị Kim T1 và bà Đỗ Thị Thu D1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn -

về việc đòi nhà đất đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

Dương Châu Th, Dương Châu S, Dương Châu T2, Dương Thị Kim D, Dương Thị Kim H, Dương Thị Kim A, Dương Thị Kim Y, Dương Thị Kim U, Dương Thị Kim T1 cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các ông bà Đỗ Thị Thu D1, Võ Văn L, Võ Hữu Nh, Nguyễn Tấn H1, Nguyễn Tấn S1, Nguyễn Tấn Ph, Dương Đỗ Anh V, Nguyễn Thị Kiều O và các trẻ Võ Hữu Kh, Nguyễn Hoàng Phương Ngh trả nhà đất tọa lạc tại đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc thửa đất số 02, tờ bản đồ 05 (BĐĐC) P9Q6, có diện tích là 182,2m2 theo Bản vẽ sơ đồ nhà đất do Công ty TNHH Dịch vụ - Thương mại – Đo đạc M lập ngày 06/10/2003.

-

sự tự nguyện của

về việc

cho di chuyển đi nơi khác là 182.200.000

(một trăm tám mươi hai triệu hai trăm ngàn đồng).

- Các bị đơn được quyền lưu cư

.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành tại thời điểm thanh toán.

2/ Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Dương Châu Th, bà Dương Thị Kim T1 và bà Đỗ Thị Thu D1, mỗi người phải chịu 200.000đ (được khấu trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp lần lượt tại các biên lai thu số AE/2011/03139 (bà Bùi Thị Tuyết Kh1 nộp thay ông Dương Châu Th), số AE/2011/03138 (bà Dương Thị Kim T1), số AE/2011/03140 (bà Đỗ Thị Thu D1) cùng ngày 21/7/2016 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ