vanban.org

Bản án 293/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Danh T.

Về hôn nhân: Xử cho ông Danh T ly hôn với bà Thị C. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Danh T.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 293/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25/9/2025.
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Hữu Quang.

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Thị Kim Lài – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang (Cơ sở 2) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 128/2025/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025, về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 100/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 09 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Danh T - sinh ngày 01/01/1987, có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ cũ: ấp An Phú, xã Vĩnh Phước B, huyện Gò Quao, Kiên Giang.

Nay là ấp An Phú, xã Gò Quao, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Bà Thị C - sinh ngày 01/01/1991, vắng mặt.

Địa chỉ: ấp An Thọ, xã Định An, huyện Gò Quao, Kiên Giang.

Nay là ấp An Thọ, xã Gò Quao, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/4/2025, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn ông Danh T như sau:

Ông và bà Thị C cưới nhau vào năm 2009, hôn nhân tự nguyện, ông bà đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang vào ngày 21/4/2009.

Vợ chồng sống chung hạnh phúc được 07 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên cự cãi, lúc bà Thị C đang mang thai thì bỏ về nhà cha mẹ ruột sống cho đến nay không quay lại. Hiện vợ chồng không còn khả năng chung sống với nhau được nữa và ông không còn tình cảm với bà Thị C nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Thị C.

Thời gian chung sống vợ chồng ông bà có 01 người con chung tên Danh Hoàng M – sinh ngày 22/10/2010, do bà Thị C nuôi dưỡng và hiện nay cháu M đang đi tu ở Chùa S.

Về tài sản chung: Vợ chồng ông không có tài sản chung.

Về nợ chung: Ông cam đoan vợ chồng ông không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyện vọng:

Về hôn nhân: Ông xin được ly hôn với bà Thị C.

Về con chung: Hiện con chung của vợ chồng ông đang sống ở Chùa S nên ông không yêu Tòa án giải quyết cho ông nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Thị C đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng bà Thị C không đến Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của bà Thị C.

Tại phiên tòa, ông Danh T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Thị C. Về con chung, tài sản chung và nợ chung ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Phát biểu của kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang tại phiên tòa:

Về việc tuân thủ theo pháp luật về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tuân thủ các thủ tục về thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết vụ kiện; Việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định; Thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt không có lý do là không tuân thủ pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụg dân sự xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho ông Danh T được ly hôn với bà Thị C. Về con chung, về tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên Viện kiểm sát không có đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tranh chấp giữa ông Danh T và bà Thị C là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang theo quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025.

Bà Thị C là bị đơn trong vụ án, bà Thị C có địa chỉ rõ ràng, đó cũng là nơi ông đăng ký hộ khẩu thường trú, hiện nay bà Thị C vẫn còn hộ khẩu thường trú ở địa chỉ trên. Tòa án đã niêm yết các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bà Thị C vắng mặt tại phiên tòa 02 lần không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Thị C.

Về hôn nhân: Ông Danh T và bà Thị C cưới nhau vào năm 2009, có tổ chức đám cưới, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 66/2009, ngày 21/4/2009, như vậy Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của ông Danh T và bà Thị C là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Tuy hôn nhân của ông Danh T và bà Thị C là hôn nhân tự nguyện, sống hạnh phúc khoảng 07 tháng và có 01 người con chung nhưng vợ chồng ông bà đã phát sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được. Ông Danh T cho rằng do vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên cự cãi, lúc bà Thị C đang mang thai thì bỏ về nhà cha mẹ ruột sống cho đến nay không quay lại. Ngày 01/8/2025 và ngày 20/8/2025, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng bà Thị C vắng mặt và ông Danh T cương quyết ly hôn với bà Thị C. Xét thấy, vợ chồng ông bà đã ly thân hơn mười năm, trong thời gian ly thân ông và bà Thị C không còn liên lạc với nhau, khi Tòa án mời bà Thị C đến Tòa án để hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ thì bà Thị C không có mặt cho thấy ông không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này và cho thấy mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được. Ông Danh T cương quyết xin ly hôn với bà Thị C và tỏ rõ thái độ không còn tình cảm yêu thương bà Thị C, vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Danh T.

Về con chung: Ông Danh T và bà Thị C có 01 người con chung tên Danh Hoàng M – sinh ngày 22/10/2010 do bà Thị C nuôi dưỡng. Hiện nay, cháu M đang tu ở Chùa S nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của cháu M. Tuy nhiên, ông Danh T không yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông nuôi con, vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Danh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Tại phiên tòa sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ và nghe lời trình bảy của nguyên đơn, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí HNGĐST: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Ông Danh T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0014876, ngày 14/4/2025, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Danh T.

Về hôn nhân: Xử cho ông Danh T ly hôn với bà Thị C.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Danh T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0014876, ngày 14/4/2025, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ