vanban.org

Bản án 293/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Bị cáo Nguyễn Văn T 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án. Cấm bị cáo Nguyễn Văn T hành nghề lái xe trong thời gian 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 260 Bộ luật Hình sự xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 293/2023/HS-ST
Ngày: 26-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Chi

Ông Phạm Văn Phước

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 233/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 284/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T; Sinh năm 1986 tại tỉnh D; Địa chỉ đăng ký thường trú và cư trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh D; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1964 và bà Đào Thị A, sinh năm 1965; Có vợ và 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 13/10/2022. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo:

Ông Đỗ Ngọc O, Luật sư của Văn phòng luật sư Đỗ Ngọc O thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

- Bị hại:

Ông Nguyễn Anh M, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Số A đường B, Phường C, Quận D, Thành phố E. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: 1. Công ty Cổ phần Logistic T; Địa chỉ trụ sở: Khu công nghiệp A, Thị trấn B, huyện C, tỉnh D. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đoàn Thị M, ông Nguyễn Hoài Ch (Có mặt) 2. Tổng Công ty Bảo hiểm V; Địa chỉ trụ sở: Số A đường B, phường C, quận D, Thành phố E; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn B (Có mặt) 3. Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm SG-HN; Địa chỉ trụ sở: Số A đường B, phường C, quận D, Thành phố E; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thanh B, ông Hứa Vinh Q (Vắng mặt) 4. Ông Lê Ngọc B, sinh năm 1992, Nơi cư trú: Số A đường B, Phường C, Quận D, Thành phố E. (Vắng mặt) 5. Ông Đỗ Quốc D, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Số A đường B, Phường 10, Quận C, Thành phố D. (Vắng mặt) 6. Ông Lê Huỳnh Tiến D, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Số A đường B, Phường C, Quận D, Thành phố E. (Vắng mặt) 7. Ông Nguyễn Huỳnh Tuấn A, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Số A đường B, Phường C, Quận D, Thành phố E. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ 10 phút ngày 30/5/2022, Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô tải hiệu Isuzu biển số 90H-XXX.01 lưu thông trên đường Quốc lộ 1 hướng từ Đồng Nai về ngã tư Thủ Đức tại làn đường thứ nhất tính từ dãi phân cách giữa đường, khi đến gần một trụ đèn không số thuộc đường Quốc Lộ 1, Khu phố 6, phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức, T khát nước nên đưa tay phải cầm ly múc nước trong thùng để trên cabin xe để uống, khi đang đưa ly nước lên ngửa cổ uống, do T không quan sát phía trước nên để xe ô tô biển số 90H-XXX.01 do T đang điều khiển đụng vào phía sau xe ô tô hiệu Audi biển số 51F-XXX.42 đang bị bể bánh xe phía trước bên trái, dừng sát lề trái cùng làn đường lưu thông của xe ô tô T điều khiển trước đó khoảng 05 phút. Xe ô tô biển số 51F-XXX.42 do anh Lê Ngọc B điều khiển chở anh Đỗ Quốc D, Lê Huỳnh Tiến D, Nguyễn Huỳnh Tuấn A. Khi xảy ra tai nạn, anh B đã xuống xe đứng chờ cứu hộ, bên trong xe còn anh Quốc D, Tiến D, Tuấn A. Hậu quả sau tai nạn làm anh Tuấn A bị thương, 01 laptop của anh Quốc D để trong xe bị hư hỏng, 02 xe ô tô bị hư hỏng. Hiện trường vụ tai nạn được giữ nguyên vẹn. Hướng từ ngã ba Tân Vạn về ngã tư Thủ Đức là đường 01 chiều chia làm 04 làn đường phân cách bằng vạch sơn không liên tục, mỗi làn tính từ trái qua phải lần lượt là 3,90m, 3,80m, 3,80m, 3,80m. Lấy trụ đèn không số làm mốc, lấy lề trái đường Quốc lộ 1 theo hướng từ ngã ba Tân Vạn về ngã tư Thủ Đức làm chuẩn, đơn vị đo là mét, hiện trường ghi nhận: Hiện trường được cố định từ trục đèn không số đến trục bánh sau xe ô tô biển số 90H-XXX.01 là 14,30m. Vị trí xe ô tô biển số 90H-XXX.01 và xe ô tô biển số 51F-XXX.42 sau tai nạn nằm sát nhau (đều hướng từ ngã ba Tân Vạn về ngã tư Thủ Đức), trục bánh trước xe ô tô biển số 90H-XXX.01 cách trục bánh sau xe ô tô biển số 51F-XXX.42 lần lượt là 2m và 2,3m. Có 01 vết trượt bánh xe ô tô biển số 90H-XXX.01 nằm giữa lề chuẩn dài 24,50m, đầu vết cách lề chuẩn 0,20m và đuôi vết nằm giữa lề chuẩn. Có 01 vết trượt bánh xe ô tô biển số 51F-XXX.42 dài 26,50m, đầu vết cách lề chuẩn 1,60m, đuôi vết cách lề chuẩn 0,70m. Có 01 vết chà xước của xe ô tô biển số 51F-XXX.42 dài 7,85m nằm trên mép dải bồn cây xanh cách trụ đèn không số 4,60m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông: Xe ô tô biển số 51F-XXX.42 để lại dấu vết: T bộ phần đuôi xe, khoang hành lý phía sau bị cong móp, biến dạng, bể vỡ rơi ra khỏi vị trí ban đầu; Hệ thống đèn tín hiệu phía sau xe bị bể hoàn T; Khung sườn xe phía sau bị cong móp, biến dạng và dính sơn màu xanh kích thước (1x0,3)m cách dất 1,3 m; Phần khung cửa xe 02 bên phía sau xe bị cong móp biến dạng, vỡ kính rơi ra ngoài; Vỏ lốp xe bên trái phía trước xe bị bể hoàn T lộ ra phần mâm bánh xe. Xe ô tô biển số 90H-XXX.01 để lại dấu vết: Cản bảo vệ phía trước đầu xe bị cong, móp thụng chiều hướng từ trước về sau (1,5x0,37) m, điểm cao nhất cách đất 90 cm, thấp nhất cách đất 60 cm; Biển số xe bị trầy xước, dính sơn màu trắng và mảnh vỡ nhựa màu đỏ kích thước (0,37x0,27)m, điểm cao nhất cách đất 50 cm, thấp nhất cách đất 80 cm; Cụm đèn xi nhan bên trái bị bể vỡ rơi ra ngoài khỏi vị trí ban đầu; Ốp nhựa phía trên cụm đèn bên trái có dấu vết bung hở, trầy xước, dính sơn màu trắng kích thước (0,4x0,3) m, điểm cao nhất cách đất 1,65 m, thấp nhất cách đất 1,00 m.

Kết luận giám định dấu vết va chạm số 4230 ngày 29/9/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Dấu vết trượt xước, biến dạng, gãy vỡ, mất sơn màu đỏ và màu xanh, bám chất màu trắng các chi tiết phía trước xe ô tô biển số 90H-XXX.01(cản trước, ốp nhựa đầu xe, biển số, gãy vỡ đèn chiếu sáng bên trái đầu xe) có chiều hướng từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước, biến dạng, gãy vỡ, bám chất màu đỏ và màu xanh, mất sơn màu trắng các chi tiết phía sau xe ô tô biển số 51F-XXX.42 (cốp sau, hệ thống đèn chiếu sáng, khung sườn, kính chắn gió, 02 cửa sau) có chiều từ sau về trước. Phía trước đầu xe ô tô biển số 90H-XXX.01 và phía sau xe ô tô biển số 51F-XXX.42 là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện. Khi xảy ra va chạm, xe ô tô biển số 90H-XXX.01 chuyển động trên quốc lộ 1 theo hướng từ Đồng Nai về ngã tư Thủ Đức, xe ô tô biển số 51F-XXX.42 đang ở trạng thái dừng phía trước cùng chiều. Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển số 90H-XXX.01, xe ô tô biển số 51F-XXX.42 với phương tiện hay vật cản khác trước khi xảy ra tai nạn giao thông. Không đủ cơ sở sở xác định trước khi xảy ra tai nạn bánh trước bên trái xe ô tô biển số 51F-XXX.42 có bị hư hỏng hay không.

Kết luận giám định số 4616/KL-KTHS ngày 26/9/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Trước, trong và sau tai nạn giao thông, hệ thống phanh và hệ thống lái xe ô tô biển số 90H-XXX.01 hoạt động bình thường, không bị hư hỏng. Bản kết luận định giá tài sản số 277-KV3/KLĐG-HĐĐGTS ngày 05/8/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Đức kết luận trị giá thiệt hại xe ô tô Audi biển số 51F-XXX.42 ngày 30/5/2022 là 559.735.000 đồng. Vật chứng thu giữ: 01 thẻ nhớ gắn trong camera hành trình xe ô tô biển số 51F-XXX.42 ghi nhận diễn biến vụ tai nạn; 01 giấy phép lái xe hạng C của Nguyễn Văn T số XXXXXXXXX920 (có giá trị đến ngày 27/12/2026); 01 xe ô tô hiệu Audi màu trắng biển số 51F-XXX.42; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe số XXX688 của xe ô tô biển số 51F-XXX.42; 01 giấy chứng nhận kiểm định số EA 0688322 của xe ô tô biển số 51F-XXX.42. Ngày 30/8/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại xe, các giấy tờ cho chủ sở hữu xe Nguyễn Anh M. 01 xe ô tô hiệu Isuzi màu xanh đỏ biển số 90H-XXX.01; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe số 007556 của xe ô tô biển số 90H-XXX.01; 01 giấy chứng nhận kiểm định số EA 0734552 của xe ô tô biển số 90H-XXX.01. Ngày 30/12/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại xe, các giấy tờ cho anh Nguyễn Hoài Ch, đại diện theo ủy quyều của của sở hữu xe là Công ty Cổ phần Logistic T. Trách nhiện dân sự: Anh Nguyễn Huỳnh Tuấn A bị gãy sống mũi, sưng 02 gò má, do bị thương tích nhẹ nên anh Tuấn A từ chối giám định thương tật; anh Lê Huỳnh Tiến D không bị thương tích nên không có yêu cầu gì; anh Đỗ Quốc D từ chối định giá thiệt hại của laptop, anh Quốc D không bị thương tích, không yêu cầu bồi thường. Đối với xe ô tô hiệu Audi màu trắng biển số 51F-XXX.42: Anh Nguyễn Anh M có mua bảo hiểm vật chất cho xe ô tô biển số 51F-XXX.42 tại Tổng Công ty Bảo hiểm V, anh M đã được Tổng Công ty Bảo hiểm V bồi thường số tiền bảo hiểm 697.800.000 đồng. Anh Nguyễn Anh M chuyển quyền yêu cầu bồi thường trong vụ tai nạn cho Tổng Công ty Bảo hiểm V. Đối với xe ô tô hiệu Isuzu màu xanh đỏ biển số 90H-XXX.01: Công ty Cổ phần Logistic T có mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho xe ô tô biển số 90H-XXX.01 tại Công ty Bảo hiểm BSH HD thuộc Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm SG-HN. Trong vụ tai nạn, Công ty Bảo hiểm BSH HD sẽ bồi thường cao nhất 100.000.000 đồng sau khi thu thập đầy đủ tài liệu, chứng từ xác định phạm vi bồi thường. Công ty Cổ phần Logistic T từ chối định giá tài sản thiệt hại do xe chỉ bị hư hỏng nhẹ phần cản phía trước, thiệt hại không đáng kể. Công ty Cổ phần Logistic T không yêu cầu T bồi thường. Bản cáo trạng số 233/CT-VKSTPTĐ ngày 29/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Văn T mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm; Về xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật; Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường 150.000.000 đồng; Công ty Cổ phần Logistic T bồi thường 309.735.000 đồng, Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm SG-HN bồi thường 100.000.000 đồng; Tổng cộng 559.735.000 đồng cho Tổng Công ty Bảo hiểm V.

Người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên và bào chữa cho bị cáo, xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo cho bị cáo hưởng mức án treo để có điều kiện đi làm nuôi gia đình.

Bị hại Nguyễn Anh M đề nghị xem xét giảm mức hình phạt đối với bị cáo. Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Nguyễn Anh M đã có văn bản chuyển giao quyền sở hữu xe và thông báo chuyển giao quyền yêu cầu cho Tổng Công ty Bảo hiểm V ngày 07/3/2023.

Tổng Công ty Bảo hiểm V yêu cầu Công ty Cổ phần Logistic T và bị cáo Nguyễn Văn T liên đới bồi thường 697.800.000 đồng;

Công ty Cổ phần Logistic T đồng ý bồi thường 309.735.000 đồng; Nguyễn Văn T bồi thường 150.000.000 đồng; Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm SG-HN bồi thường 100.000.000 đồng; Tổng cộng 559.735.000 đồng cho Tổng Công ty Bảo hiểm V.

Bị cáo khai nhận T bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng; Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và không tự bào chữa; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng mức án treo để có điều kiện đi làm nuôi gia đình

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận khoảng 14 giờ 10 phút ngày 30/5/2022,Nguyễn Văn T có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô tải hiệu Isuzu biển số 90H-XXX.01 lưu thông trên đường Quốc lộ 1 hướng từ Đồng Nai về ngã tư Thủ Đức, khi đến gần một trụ đèn không số trên đường Quốc Lộ 1, Khu phố 6, phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức, do không chú ý quan sát phía trước để xe ô tô biển số 90H-XXX.01 va chạm với phía sau xe ô tô hiệu Audi biển số 51F-XXX.42 do anh Lê Ngọc B điều khiển đang gặp sự cố bị bể bánh được dừng sát lề trái cùng làn đường lưu thông của xe ô tô T điều khiển, vụ tai nạn gây thiệt hại 559.735.000 đồng cho xe ô tô hiệu Audi biển số 51F-XXX.42 đã vi phạm vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 của Bộ luật hình sự. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về an T giao thông đường bộ với lỗi vô ý, nguy hiểm cho xã hội. [3] Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. [6] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng của bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, xem xét cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung. Cần cấm bị cáo hành nghề lái xe theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự trong thời gian thử thách của án treo. [7] Về bồi thường thiệt hại: Cần buộc các cá nhân, tổ chức bồi thường 559.735.000 đồng thiệt hại về tài sản cho bị hại ủy quyền cho Tổng Công ty Bảo hiểm V: Nguyễn Văn T bồi thường 150.000.000 đồng; Công ty Cổ phần Logistic T bồi thường 309.735.000 đồng; Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm SG-HN bồi thường 100.000.000 đồng. [8] Về xử lý vật chứng: Các vật chứng, tài liệu đồ vật đã trả cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét; Tiếp tục lưu hồ sơ 01 thẻ nhớ gắn trong camera hành trình xe ô tô biển số 51F-XXX.42 ghi nhận diễn biến vụ tai nạnvà 01 giấy phép lái xe hạng C số XXXXXXXXX920 của Nguyễn Văn T. [9] Về các vấn đề khác: Đối với anh Lê Ngọc B có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô biển số 51F-XXX.42 đang lưu thông trên đường thì bị sự cố bể bánh xe phía trước bên trái nên anh B phải dừng xe sát lề trái để chờ cứu hộ, không có căn cứ xử lý hình sự đối với hành vi của anh B là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không xem xét. [10] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 7.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; Công ty Cổ phần Logistic T phải chịu 15.486.750 đồng án phí dân sự sơ thẩm; Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm SG-HN phải chịu 5.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1. Áp dụng điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Văn T 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án.

Cấm bị cáo Nguyễn Văn T hành nghề lái xe trong thời gian 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh C giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Áp dụng khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Văn T nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

3. Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 589 của Bộ luật Dân sự:

Buộc Nguyễn Văn T bồi thường số tiền 150.000.000 (Một trăm năm mươi triệu) đồng cho Tổng Công ty Bảo hiểm V.

Buộc Công ty Cổ phần Logistic T bồi thường 309.735.000 (Ba trăm lẻ chín triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn) đồng cho Tổng Công ty Bảo hiểm V.

Buộc Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm SG-HN bồi thường 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng cho Tổng Công ty Bảo hiểm V.

4. Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 7.500.000 (Bảy triệu năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm; Công ty Cổ phần Logistic T phải chịu 15.486.750 (Mười lăm triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn bảy trăm năm mươi) đồng án phí dân sự sơ thẩm; Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm SG-HN phải chịu 5.000.000 (Năm triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm. 5. Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án sơ thẩm có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án sơ thẩm có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. 6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. (Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)

Cỡ chữ