vanban.org

Bản án 293/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 15/11/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/11/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê văn Phương và đồng phạm, cùng phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 293/2023/HS-PT
Ngày: 15-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Võ Trinh

Ông Sỹ Danh Đạt

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhựt Minh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 264/2023/TLPT-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Lê Văn P, Trần Minh T. Do có kháng cáo của bị cáo Lê Văn P, Trần Minh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2023/HS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng.

- B cáo có kháng cáo:

1. Lê Văn P, sinh ngày 29 tháng 9 năm 1974 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi thường trú: Ấp C, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nơi ở hiện tại: Ấp G, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê N, không xác định năm sinh (chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1947 (sống); Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Có vợ tên Nguyễn Thị M, sinh năm 1980 và 02 người con (lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2004); Tiền án: Không; Tiền sự: Vào ngày 01-02-2023 bị Công an xã B, huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, nộp phạt vào xong ngày 22-02-2023; Tạm giữ: Không; Tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Minh T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1973 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi thường trú: Ấp G, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nơi ở hiện tại: Ấp G, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Đ, sinh năm 1952 (sống) và bà Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1952 (chết); Anh (chị) em ruột: 04 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Có vợ tên Giang Thị Hồng M1, sinh năm 1976 (đã ly hôn) và 01 con (sinh năm 1996); Tiền án: Không; Tiền sự: Vào ngày 01-02-2023 bị Công an xã B, huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, nộp phạt xong vào ngày 26-02-2023; Tạm giữ: Không; Tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho các bị cáo Lê Văn P và Trần Minh T: Luật sư Ngô Quang T1 - văn phòng L, thuộc đoàn luật sư tỉnh Đ (có mặt).

Trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng ngh .

NỘI D NG V ÁN:

Theo các tài liệu có trong h s vụ án và di n bi n t i phiên tòa, n i dung vụ án được tóm t t như sau:

Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 03-3-2023, Công an xã B, huyện T tiến hành bắt quả tang tụ điểm đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền, hình thức đánh bài phỏm, bài tây 52 lá tại quán nước của anh Trần Ngọc Đ1 thuộc ấp G, xã B, huyện T gồm có: Lê Văn P, Trần Minh T, Tôn Thất M2 đang tham gia đánh bạc. Công an lập biên bản bắt quả tang và thu giữ tiền Việt Nam 200.000 đồng; 02 bộ bài tây (chưa qua sử dụng) và 07 bộ bài tây (đã qua sử dụng). Qua làm việc Lê Văn P, Trần Minh T và Tôn Thất M2 thừa nhận có tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền, hình thức đánh bài phỏm, ăn nhất 10.000 đồng, còn thua nhì 5.000 đồng, tham gia chơi được khoảng 15 ván thì bị Công an xã B, huyện T bắt quả tang.

* Vật chứng của vụ án thu giữ được:

- 09 (chín) bộ bài tây (gồm: 02 (hai) bộ bài tây (chưa qua sử dụng), 07 (bảy) bộ bài tây (đã qua sử dụng)).

- Tiền Việt Nam: 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), thu giữ tại chiếu bạc.

Đối với hành vi của Tôn Thất M2 tham gia đánh bạc cùng với P và T nhưng chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an xã B, huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính Mỹ số tiền 1.500.000 đồng.

Đối với Trần Ngọc Đ1 là chủ quán nước nơi đánh bạc, việc Lê Văn P, Trần Minh T và Tôn Thất M2 tự lấy bài để đánh bạc tại quán nước thì anh Đ1 không biết vì anh Đ1 đi công việc không có mặt tại quán nước nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xem xét xử lý.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2023/HS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn P, Trần Minh T đồng phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, Điều 17, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Văn P 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, Điều 17, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Minh T 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 13 tháng 9 năm 2023, bị cáo Lê Văn P, Trần Minh T cùng có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Lê Văn P, Trần Minh T bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Lê Văn P, Trần Minh T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo và cung cấp biên lai thu tiền án phí sơ thẩm, xác nhận tích cực tham gia mai táng từ thiện tại địa phương, riêng bị cáo T xác nhận đang nuôi cha cha già tàn tật. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng đây không phải là điều kiện để cho các bị cáo được hưởng án treo theo quy định. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn P, Trần Minh T, giữ nguyên phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Lê Văn P, Trần Minh T.

Luật sư bào chữa cho các bị cáo P, T phát biểu quan điểm: Thống nhất quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về phần tội danh, điều khoản của tội danh áp dụng đối với các bị cáo. Tuy nhiên, xin Hội đồng xét xử xem xét, trong quá trình điều tra cũng như tại các phiên tòa sơ, phúc thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; cả hai đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bản thân bị cáo P là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, con động, vợ bệnh chính quyền địa phương xác nhận bị cáo Phương tích c tham gia mai táng từ thiện và có công tôn tạo khu nghĩa địa nhân dân tại địa phương. Riêng bị cáo T là lao động chính duy nhất trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn đang nuôi cha trên 70 tuổi, bị cụt một chân. Xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo đươc cải tại không giam giữ hoặc được hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc gia đình.

Trong phần tranh luận, bị cáo Lê Văn P, Trần Minh T không tranh luận mà chỉ xin được hưởng án treo để có điều kiện chăm lo cho gia đình.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn P, Trần Minh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Mặc dù bị cáo Lê Văn P, Trần Minh T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nhưng chưa hết thời gian để được coi là chưa có tiền sự nhưng các bị cáo không biết ăn năn hối cải mà tiếp tục tham gia đánh bạc được thua bằng tiền cùng với Tôn Thất M2 thì bị bắt quả tang cùng tang vật vào ngày 03/3/2023.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Lê Văn P, Trần Minh T tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh bài phỏm được thua bằng tiền và bị Cơ quan công an bắt tang thu gữ tại chiếu bạc số tiền 200.000 đồng. Tuy số tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng do các bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này, chưa hết thời gian để được coi là chưa có tiền sự. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Văn P, Trần Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Văn P, Trần Minh T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà án sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo là hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, đã có cân nhắc, xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đã áp dụng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho các bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Lê Văn P, Trần Minh T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo và cung cấp biên lai thu tiền án phí sơ thẩm. Bị cáo P là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, con động, vợ bệnh; chính quyền địa phương xác nhận bị cáo Phương tích c tham gia mai táng từ thiện và có công tôn tạo khu nghĩa địa nhân dân tại địa phương. Riêng bị cáo T là lao động chính duy nhất trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn đang nuôi cha trên 70 tuổi, bị tàn tật. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho các bị cáo. Tuy nhiên, các tình tiết này không phải là điều kiện để cho các bị cáo được hưởng án treo theo quy định. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Văn P, Trần Minh T, giữ nguyên phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo Lê Văn P, Trần Minh T.

[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo Lê Văn P, Trần Minh T là hoàn toàn phù hợp nên chấp nhận.

Xét lời bào chữa của vị luật sư về các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo là phù hợp. Riêng đề nghị cho các bị cáo được hưởng án treo là chưa phù hợp như Hội đồng xét xử đã nhận định ở phần trên nên không chấp nhận.

[5] Do kháng cáo của các bị cáo Lê Văn P, Trần Minh T không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

Q YẾT Đ NH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Lê Văn P, Trần Minh T. Giữ nguyên phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Lê Văn P, Trần Minh T.

2. Tuyên bố các bị cáo Lê Văn P, Trần Minh T cùng phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Văn P 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án phạt tù.

Xử phạt bị cáo Trần Minh T 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án phạt tù.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Các bị cáo Lê Văn P, Trần Minh T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ