- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn N phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 293/2022/HS-ST Ngày: 27 - 10 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Yến
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Ngọc Thi
Ông Trương Hoài Khanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Thiệt – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 190/2022/TLST-HS, ngày 07 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 265/2022/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Tuấn N, sinh ngày: 11/10/1996; tại: huyện H, tỉnh Kiên Giang.
Nơi ĐKTT: Tổ 05, ấp T, xã H1, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
Chỗ ở: Số 1028/34 đường T, phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị M; anh, chị ruột 03 người (lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 1988); Tiền sự: không; Tiền án: không.
Nhân thân: Ngày 31/3/2021 bị Công an huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi đánh bạc (Quyết định số: 77/QĐ-XPHC). Ngày 31/3/2021 đã nộp phạt xong, đã xóa tiền sự.
Bị cáo bị bắt ngày 07/6/2022 và bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1965 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ 5, ấp T, xã H1, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
* Người làm chứng:
- Trần Hữu P, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 05 đường D, phường V, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
- Trần Minh T, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 639 đường Q, phường L, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
- Trần Thị Trúc P1, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 639 đường Q, phường L, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
* Người chứng kiến:
- Huỳnh Nghiệp Q1, sinh năm 1967 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 442 đường D, phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
- Trương Đức H, sinh năm 1965 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 228 đường A, phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 22 giờ 30 phút, ngày 07/6/2022 tại trước số 1028/26 đường T, phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố Rạch Giá bắt quả tang Nguyễn Tuấn N đang tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong lòng bàn tay trái của N 01 (một) gói giấy trắng bên trong có chứa 04 (bốn) viên thuốc lắc (MDMA) và 01 (một) bịch ma túy Khay (Ketamine), thu giữ trong túi đeo hiệu ADIDAS để trong cốp xe mô tô biển kiểm soát 68T1-549.89 của N đang điều khiển (xe của N là chủ sở hữu) 01 (một) bịch ma túy Khay (Ketamine). Ngoài ra, N tự nguyện giao nộp 05 (năm) bịch ma túy Khay (Ketamine) cất tại nhà trọ N thuê để ở tại số 1028/34 đường T, phường H, thành phố G. N khai nhận tàng trữ trái phép chất ma túy để nhằm mục đích sử dụng cá nhân và bán lại cho các con nghiện để kiếm lời.
Quá trình điều tra, N khai nhận bắt đầu sử dụng ma túy loại thuốc lắc (MDMA) và Khay (Ketamine) từ khoảng tháng 01/2022. Do nhu cầu sử dụng ma túy và có ý định bán ma túy lại cho các con nghiện kiếm lời nên vào khoảng cuối tháng 4/2022, N đi lên Thành phố Hồ Chí Minh gặp người thanh niên tên M (không rõ tên, địa chỉ do N quen biết ngoài xã hội) mua 01 (một) bịch ma túy Khay với số tiền 2.000.000 đồng và 05 (năm) viên thuốc lắc với số tiền 1.000.000 đồng, tổng cộng 3.000.000 đồng. Vào khoảng cuối tháng 5/2022, N tiếp tục đi lên Thành phố Hồ Chí Minh mua 01 (một) bịch ma túy Khay với số tiền 4.000.000 đồng và 10 (mười) viên thuốc lắc với số tiền 1.800.000 đồng, tổng cộng 5.800.000 đồng. Khi mua ma túy xong thì N xóa số điện thoại của M và cũng không nhớ số điện thoại của M. Sau khi có ma túy thì N đem về phòng trọ chia nhỏ ra để sử dụng và bán lại cho nhiều con nghiện khác trên địa bàn thành phố Rạch Giá từ khoảng thời gian cuối tháng 4/2022 đến ngày 07/6/2022, cụ thể như sau:
- N bán cho Trần Hữu P 01 (một) bịch ma túy Khay với số tiền 2.000.000 đồng tại quán PARADISE, đường T, phường L cách ngày bị bắt quả tang vào khoảng cuối tháng 4/2022 (Bút lục số 41 đến 48, 49 đến 50, 61)
- Bán cho Trần Minh T 02 (Hai) viên thuốc lắc và 02 (Hai) bịch ma túy Khay với số tiền 2.200.000 đồng vào khoảng cuối tháng 4 /2022, giao dịch tại gần nhà của T tại số 639 đường Q, phường L, N dùng điện thoại Iphone để liên lạc mua bán ma túy và nhắn tin Zalo đòi tiền đối với T và T đã trả xong số tiền mua ma túy là 2.200.000 đồng (Bút lục số 41 đến 44, 45 đến 46, 57, 59, 67, 72 đến 74)
- Bán cho người tên N (chưa rõ tên thật, địa chỉ) 06 (sáu) viên thuốc lắc với số tiền 1.800.000 đồng, tại đầu hẻm 1028 đường T, phường H, cách ngày bị bắt quả tang trước đó khoảng 07 ngày. N dùng điện thoại Iphone để liên lạc mua bán ma túy và nhắn tin Zalo đòi tiền đối với N và N đã trả xong số tiền mua ma túy là 1.800.000 đồng (Bút lục số 42, 44, 66, 67, 69 đến 71).
Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 07/6/2022, Trần Hữu P dùng số điện thoại 0868.799.979 gọi vào số máy 0918.339.918 gắn vào điện thoại hiệu Nokia, màu xanh của N hỏi mua 01 (một) bịch ma túy Khay với số tiền 3.000.000 đồng và 04 (bốn) viên thuốc lắc với số tiền 1.200.000 đồng, hẹn đến khu vực sau quán 68, đường 3/2, phường L giao dịch mua bán thì N đồng ý (Phi chưa trả tiền cho N). Sau đó, N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68T1-549.89 (xe của N) đem ma túy đến điểm hẹn giao cho P, đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi N điều khiển xe đi đến trước số 1028/26 đường T, phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang để giao ma túy cho P nhưng chưa kịp giao thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng tang vật. Ngày 16/6/2022, Nguyễn Tuấn N bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam để điều tra (Bút lục số 21, 41, 43, 53, 55, 61, 63, 65 đến 66, 68).
Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đối với Trần Hữu P, Trần Minh T đã mua ma túy của N để sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Rạch Giá đã thông báo cho Công an địa phương nắm và quản lý theo diện người sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với người phụ nữ tên N đã mua ma túy của N, người thanh niên tên M đã bán ma túy cho N (tất cả đều chưa rõ tên thật và địa chỉ), Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Rạch Giá tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
* Vật chứng thu giữ trong vụ án:
- 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong có chứa 04 (bốn) viên nén màu xanh và 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài, viền màu xanh bên trong có chứa các hạt chất rắn màu trắng, không đồng nhất. Tất cả đã được niêm phong trong phong bì màu trắng, có chữ ký xác nhận của người bị bắt Nguyễn Tuấn N, người chứng kiến Huỳnh Nghiệp Q1, Trương Đức H, Điều tra viên Thái Trần Chung và dấu mộc tròn màu đỏ của Công an phường An Hòa, thành phố Rạch Giá (gói 01);
- 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài, viền màu đỏ bên trong có chứa chất rắn màu trắng, không đồng nhất, được niêm phong trong phong bì màu trắng, có chữ ký xác nhận của người bị bắt Nguyễn Tuấn N, người chứng kiến Huỳnh Nghiệp Q1, Trương Đức H, Điều tra viên Thái Trần Chung và dấu mộc tròn màu đỏ của Công an phường An Hòa, thành phố Rạch Giá (gói 02);
- 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ, bên trong có chứa 05 (năm) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ, bên trong mỗi bịch có chứa chất rắn màu trắng, không đồng nhất, được niêm phong trong phong bì màu trắng, có chữ ký xác nhận của người bị bắt Nguyễn Tuấn N, người chứng kiến Huỳnh Nghiệp Q1, Trương Đức H, Điều tra viên Thái Trần Chung và dấu mộc tròn màu đỏ của Công an phường An Hòa, thành phố Rạch Giá (gói 03);
- 01 (một) điện thoại hiệu Nokia, màu xanh, số Imei: 356713055171548. đã qua sử dụng;
- 01 (một) điện thoại hiệu Iphone, số Imei: 356775681679307, đã qua sử dụng;
- 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 68T1-549.89, đã qua sử dụng;
- 01 (một) túi đeo hiệu ADIDAS;
- Tiền Việt Namm 1.500.000 đồng;
- Tiền Việt Nam 4.500.000 đồng (gia đình Nguyễn Tuấn N nộp thay cho N) (Bút lục số 19 đến 22; 76 đến 78)
* Tại bản kết luận giám định số: 507/KL-KTHS, ngày 15/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận:
- Gói 1:
+ 04 (bốn) viên nén màu xanh chứa trong 01 gói giấy được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA. Khối lượng mẫu gửi giám định là 2,1567 gam.
+ Các hạt chất rắn màu trắng, dạng tinh thể không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,8678 gam.
- Gói 2: Các hạt chất rắn màu trắng, dạng tinh thể không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,9900 gam.
- Gói 3: Các hạt chất rắn màu trắng, dạng tinh thể không đồng nhất chứa trong 05 (năm) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 2,0342 gam.
MDMA là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 27, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 35, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
(Bút lục số 35 đến 36)
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
* Bản cáo trạng số: 208/CT-VKSRG, ngày 06 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
* Tại phiên tòa:
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thống nhất kết quả giám định và không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Tuấn N và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn N phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và đề nghị xử phạt bị cáo N mức án từ 07 (Bảy) năm đến 08 (Tám) năm tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
+ Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tuyên:
Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng: 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 507/2022 gói 01, bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu, có chữ ký giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến niêm phong Lê Văn Toàn và hình dấu tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang; 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 507/2022 gói 02, bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu, có chữ ký giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến niêm phong Lê Văn Toàn và hình dấu tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang; 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 507/2022 gói 03, bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu, có chữ ký giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến niêm phong Lê Văn Toàn và hình dấu tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang; 01 (một) túi đeo hiệu ADIDAS.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại hiệu Nokia, màu xanh, số Imei: 356713055171548, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại hiệu Iphone, số Imei: 356775681679307, đã qua sử dụng; 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 68T1-549.89, đã qua sử dụng;
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo N có được từ việc bán ma túy là 6.000.000 đồng (trong đó N tự nộp 1.500.000 đồng tiền bị thu giữ khi bắt quả tang không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và nhờ gia đình nộp thêm 4.500.000 đồng), theo giấy nộp tiền vào Kho bạc nhà nước tỉnh Kiên Giang ngày 25/8/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá)
(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 146, ngày 28/7/2022 và số 164, ngày 26/8/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá)
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo N thừa nhận hành vi phạm tội, nhận thức được hành vi của bản thân là sai trái, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào lúc 22 giờ 30 phút, ngày 07/6/2022, tại trước nhà số 1028/26 đường T, phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang; Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố Rạch Giá đã bắt quả tang Nguyễn Tuấn N đang tàng trữ trái phép chất ma tuý, thu giữ 01 (một) bịch ma túy Khay (qua giám định là MDMA, khối lượng 2,1567 gam) và 04 (bốn) viên thuốc lắc (qua giám định là Ketamine, khối lượng 2,8578 gam); bị cáo N thừa nhận số ma tuý này là của bị cáo đang trên đường mang đi bán cho Trần Hữu P thì bị bắt quả tang, đồng thời N đã tự nguyện giao nộp thêm 05 (năm) bịch ma túy (qua giám định là Ketamine, khối lượng 2,0342 gam) tại nơi N thuê để ở tại số 1028/34 đường T, phường H, thành phố G. Về nguồn gốc của số ma túy nêu trên bị cáo khai nhận mua của người tên M (không biết tên thật, địa chỉ) tại Thành phố Hồ Chí Minh về cất giữ để sử dụng dần và bán lại cho người nghiện để kiếm lời; khi các đối tượng nghiện có nhu cầu sử dụng ma túy thì gọi điện thoại cho N để thỏa thuận số lượng, giá, phương thức và địa điểm giao nhận.
Quá trình điều tra làm rõ, ngoài lần bị cáo đang trên đường đi giao ma túy bán cho Trần Hữu P nhưng chưa giao được, chưa nhận tiền thì bị bắt quả tang vào ngày 07/6/2022; N còn tự nguyện khai ra trước đó trong khoảng thời gian từ cuối tháng 4/2022 đến ngày 07/6/2022 N đã bán cho Trần Hữu P 01 bịch ma túy Khay với số tiền 2.000.000 đồng, bán cho Trần Minh T 02 viên thuốc lắc và 02 bịch ma túy Khay với số tiền 2.200.000 đồng và bán cho người tên N (không rõ tên thật, địa chỉ) 06 viên thuốc lắc với số tiền 1.800.000 đồng, tổng số tiền bán ma túy có được là 6.000.000 đồng bị cáo sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo về những lần mua bán ma túy với lời khai của những người đã mua ma túy của N là Trần Hữu P, Trần Minh T thì hoàn toàn phù hợp.
Tại phiên tòa, bị cáo N đã thừa nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy như đã nêu trên. Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định cùng với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Tuấn N đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự với khung hình phạt quy định là “……bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm”.
Xét cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá truy tố các bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát luận tội tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo phạm vào tội rất nghiêm trọng, rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất về ma túy; tác hại của việc sử dụng ma túy là gây tổn hại đến thể chất, tinh thần của con người, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tệ nạn xã hội và gián tiếp phát sinh nhiều loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an xã hội; vì vậy Nhà nước luôn chú trọng việc phòng ngừa, đấu tranh và xử lý nghiêm khắc đối với các tội phạm liên quan đến ma túy, mọi hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và xử lý nghiêm minh. Bản thân bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật cũng như những hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra sẽ ảnh hưởng lớn đến bản thân và cộng đồng, nhưng vì vụ lợi, muốn có tiền tiêu xài và ma túy sử dụng, cùng với ý thức xem thường pháp luật bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo được tính răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo hợp tác tốt với các cơ quan tiến hành tố tụng để làm rõ nội dung vụ án, cụ thể là đã tự thú khai ra các lần phạm tội trước đó; đồng thời bị cáo đã nộp đủ số tiền thu lợi bất chính, bản thân bị cáo được xác định không có tiền án, tiền sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình.
Xét các chứng cứ buộc tội và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đối với việc giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo; sau khi nghị án Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn N hình phạt tù có thời hạn, giam giữ bị cáo trong một thời gian nhất định để giáo dục, răn đe, cải tạo bị cáo, qua đó đảm bảo được tính phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo N nghề nghiệp làm thuê, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Đối với các vật chứng của vụ án, theo Lệnh nhập kho vật chứng số 146, ngày 28/7/2022 và số 164, ngày 26/8/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá (Bút lục số 79, 80); Hội đồng xét xử quyết định:
+ Tịch thu tiêu hủy các vật chứng không có giá trị sử dụng, gồm: 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 507/2022 gói 01, bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu, có chữ ký giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến niêm phong Lê Văn Toàn và hình dấu tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang; 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 507/2022 gói 02, bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu, có chữ ký giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến niêm phong Lê Văn Toàn và hình dấu tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang; 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 507/2022 gói 03, bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu, có chữ ký giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến niêm phong Lê Văn Toàn và hình dấu tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang; 01 (một) túi đeo hiệu ADIDAS.
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước các vật chứng là phương tiện bị cáo dùng vào việc thực hiện tội phạm, gồm: 01 (một) điện thoại hiệu Nokia, màu xanh, số Imei: 356713055171548, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại hiệu Iphone, số Imei: 356775681679307, đã qua sử dụng; 01 (một) xe máy, biển kiểm soát 68T1-549.89, số máy: KF41E1905985, số khung: 4117LK903562;
- Biện pháp tư pháp: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo N có được từ việc bán trái phép chất ma túy là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) (gồm 1.500.000 đồng tiền của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội bị thu giữ và bị cáo tự nguyện giao nộp, 4.500.000 đồng do bị cáo nhờ gia đình nộp thay), theo giấy nộp tiền vào Kho bạc nhà nước tỉnh Kiên Giang ngày 25/8/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều ta Công an thành phố Rạch Giá.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn N 07 (Bảy) năm tù; thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ (ngày 07/6/2022).
* Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 507/2022 gói 01, bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu, có chữ ký giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến niêm phong Lê Văn Toàn và hình dấu tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang;
+ 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 507/2022 gói 02, bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu, có chữ ký giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến niêm phong Lê Văn Toàn và hình dấu tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang;
+ 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 507/2022 gói 03, bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu, có chữ ký giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến niêm phong Lê Văn Toàn và hình dấu tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang;
+ 01 (một) túi đeo hiệu ADIDAS.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
+ 01 (một) điện thoại hiệu Nokia, màu xanh, số Imei: 356713055171548, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) điện thoại hiệu Iphone, số Imei: 356775681679307, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 68T1-549.89, đã qua sử dụng.
- Biện pháp tư pháp: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo N có được từ việc bán trái phép chất ma túy là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng), theo giấy nộp tiền vào Kho bạc nhà nước tỉnh Kiên Giang ngày 25/8/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều ta Công an thành phố Rạch Giá.
(Các vật chứng nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số: 197/QĐ-VKS ngày 06/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá).
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; xử:
Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/10/2022).
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND Tp. Rạch Giá; - Chi cục THA dân sự Tp. Rạch Giá; - Công An Tp. Rạch Giá; - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; - Bị cáo; - Lưu. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân Trương Hoài Khanh Huỳnh Ngọc Thi | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Kim Yến Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Kim Yến |