- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Trung và đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn T, Trần Trung H, Lê Minh T phạm tội Trộm c p tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 293/2021/HS-ST Ngày 27-10-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
2. Ông Tô Văn Nhung.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Cao Tấn Ngoan, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2021 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 306/2021/HSST ngày 16 tháng 9 năm 2021, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 318/2021/QĐXXST-HS ngày 12/10/2021 đối với các bị cáo:
1. Lê Văn T (tên gọi khác Q), sinh năm 1995 tại tỉnh Bến Tre; thƣờng tr : Ấp A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 01/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; con ông Lê Văn T1, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1968; bị cáo có 04 anh em ruột, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 2001; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 09/10/2019 bị công an phƣờng A, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma t y, bị cáo chƣa đóng tiền phạt; bị b t tạm giam t ngày 04/6/2021, có m t.
2. Lê Minh T, sinh ngày 19/9/2002 tại tỉnh Sóc Trăng; thƣờng tr : Đƣờng C, Khóm 6, Phƣờng 1, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 01/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; cha không rõ và mẹ tên Lê Thị T (không rõ năm sinh); bị cáo có 02 chị em ruột, lớn sinh năm 1993, nhỏ là bị cáo; tiền án, tiền sự: Không; bị b t tạm giam t ngày 04/6/2021, có m t.
3. Trần Trung H, sinh năm 1999 tại tỉnh Cà Mau; thƣờng tr : Khóm 8, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 4/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; con ông Trần Văn S, sinh năm 1964 và bà Tạ Thị T, sinh năm 1964; bị cáo có 03 anh em ruột, lớn sinh năm 1995, nhỏ nhất là bị cáo; tiền án: Bản án số 14/2018/HSST ngày 02/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Cà Mau xử phạt 03 năm tù về Tội cƣớp tài sản và 09 tháng tù về tội trộm c p tài sản, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành là 03 năm 09 tháng. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 19/10/2020, đóng án phí năm 2020; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 25/3/2016, bị Công an thị trấn R, huyện N, tỉnh Càu Mau xử phạt 750.000đ về hành vi trộm c p tài sản; ngày 21/11/2016, bị Công an thị trấn R, huyện N, tỉnh Càu Mau xử phạt 750.000đ về hành vi đánh nhau. Bị cáo bị b t tạm giam t ngày 04/6/2021, có m t.
4. Cao Văn N, sinh năm 1994 tại tỉnh An Giang; thƣờng tr : Ấp P, xã L, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Hòa Hảo; dân tộc: Kinh; con ông Cao Văn H, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Th y P, sinh năm 1967; bị cáo có 02 anh em ruột, lớn nhất là bị cáo, nhỏ sinh năm 1995; bị cáo có 01 con sinh năm 2015; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 22/9/2020, bị Công an phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 750.000đ về hành vi sử sụng trái phép chất ma t y, bị cáo chƣa đóng phạt; bị cáo bị b t tạm giam t ngày 04/6/2021, có m t.
- Bị hại: Anh Trịnh Quốc T, sinh năm 1985; địa chỉ: 231B B, Phƣờng 4, Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu giải quyết v ng m t.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Phạm Ngọc L, sinh năm 1981; thƣờng tr : Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; tạm tr : Số 743, tổ 3, khu phố 2, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. V ng m t.
2. Anh Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1974; địa chỉ: 17/2, Tổ 2, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. V ng m t.
- Người làm chứng: Anh Phan Hồng Q. V ng m t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm t t nhƣ sau:
Lê Văn T, Lê Minh T và Trần Trung H là bạn bè quen biết nhau. Riêng Trung quen biết với Cao Văn N và đều nghiện ma t y.
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 02/6/2021 Lê Văn T, Lê Minh T và Trần Trung H đi vào khu trọ thuộc Tổ 43, khu phố C, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng để tìm ngƣời xăm hình. L c đi về, thấy xe mô tô hiệu Wave Anpha màu xanh biển số 61D1-06176 của anh Trịnh Quốc T đang dựng ở cầu thang, không có ngƣời trông coi, ổ khóa mở sẵn không có chìa khóa. Lê Văn T, Lê Minh T và Trần Trung H đi đến quán b n riêu gần đó ăn b n riêu. Tại đây, Tr bàn với T và H là “T đi lại khu trọ giả vờ đến phòng của anh Trịnh Quốc T nói chuyện nhằm cảnh giới, H lấy xe đem đến cho Tr để Tr đi bán”. Sau đó, T đi lên phòng trọ nói chuyện với anh T, H lấy xe mô tô biển số 61D1-06176 của anh Trịnh Quốc T điều khiển đến chỗ Tr. Khoảng 20 ph t thì T và anh T đi xuống cầu thang, anh T phát hiện mất xe, T giả vờ không biết và về nhà trọ ngủ. Tr gọi điện cho N nói bán xe, N hẹn g p ở khu Visip Thuận An. Tại đây, Tr nói cho N biết là xe do ngƣời em chiếm đoạt ở khu phố C, phƣờng T và nhờ N bán giúp, N đồng ý mua với giá 3.300.000đ. N mang bán cho anh Phạm Ngọc L đƣợc 3.700.000đ, nhƣng không nói cho anh L biết xe do phạm tội mà có. N giao lại cho Tr 3.300.000đ, giữ lại 400.000đ, Tr cho N thêm 200.000đ, 100.000đ trả tiền nƣớc. Tr lấy 700.000đ mua ma túy sử dụng cùng tên T (chƣa rõ nhân thân), còn lại 2.300.000đ Tr tiêu xài cá nhân. Khoảng 20 giờ 30 ph t cùng ngày, anh T đến công an phƣờng T trình báo sự việc. Qua làm việc, anh Phan Hồng Q là ngƣời tạm tr cùng dãy trọ phát hiện H là ngƣời lấy xe của anh T mang đi khỏi khu vực phòng trọ.
Căn cứ kết luận định giá số 85/KLĐG-HĐĐGTS ngày 10/6/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố D, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Wave Anpha màu xanh biển số 61D1-06176 (số máy 2866342, số khung 066299) trị giá 8.000.000 đồng, không thu hồi đƣợc.
Đối với xe mô tô hiệu Wave Anpha màu xanh biển số 61D1-06176 (số máy 2866342, số khung 066299) là do chị Nguyễn Thị Bích P mua và đăng ký sở hữu vào năm 2011. Chị P sử dụng đến năm 2013 thì bán lại cho anh Trịnh Quốc T nhƣng chƣa làm thủ tục sang tên.
Đối với anh Phạm Ngọc L mua xe mô tô hiệu Wave Anpha màu xanh biển số 61D1-06176 (số máy 2866342, số khung 066299) nhƣng không biết tài sản do phạm tội mà có. Anh L bán xe trên cho ngƣời khác không rõ nhân thân. Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý anh L đồng thời tiếp tục truy tìm ngƣời mua xe t anh L.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Trịnh Quốc T yêu cầu các bị cáo bồi thƣờng số tiền 8.000.000 đồng.
Số tiền bán xe có đƣợc (N đƣợc 600.000 đồng, Tr đƣợc 3.000.000 đồng, 100.000 đồng Tr trả tiền nƣớc), Tr và N đã tiêu xài hết, cần buộc N nộp 600.000 đồng, Tr nộp 3.100.000 đồng sung công quỹ nhà nƣớc.
Đối với đối tƣợng tên T (chƣa rõ nhân thân) mua 700.000 đồng ma túy giúp Lê Văn Tr, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố D đang tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau. Số ma t y đã đƣợc Lê Văn T và tên T sử dụng hết nên không có cơ sở xử lý hành vi Tàng trữ trái phép chất ma t y.
Việc Lê Văn Tr, Lê Minh T, Trần Trung H và Cao Văn N dƣơng tính với ma t y, các đối tƣợng khai có sử dụng trái phép chất ma t y, Công an thành phố D xử phạt hành chính mỗi bị cáo 750.000 đồng theo quy định tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/ND-CP ngày 11/12/2013 của Chính Phủ.
Tại cáo trạng số 319/CT – VKS ngày 10 tháng 9 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Lê Văn Tr, Trần Trung H, Lê Minh T về Tội trộm c p tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố Cao Văn N về Tội tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn T t 12 tháng đến 15 tháng tù, xử phạt bị cáo Lê Minh T t 09 tháng đến 12 tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Trần Trung H t 12 tháng đến 15 tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Cao Văn N t 09 tháng đến 12 tháng tù.
Trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo Lê Văn Tr, Lê Minh T và Trần Trung H có trách nhiệm bồi thƣờng cho bị hại số tiền 8.000.000đ;
Biện pháp tƣ pháp: Đề nghị buộc bị cáo Lê Văn T nộp lại 3.100.000đ, bị cáo Cao Văn N nộp lại 600.000đ để sung vào Ngân sách Nhà nƣớc.
Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận, đối đáp. Trong phần nói lời sau cùng, bị cáo Trần Trung H và Cao Văn N xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; các bị cáo Lê Văn T và Lê Minh T không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Tại cơ quan điều tra, bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và ngƣời làm chứng không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Ngày 22/10/2021, bị hại anh Trịnh Quốc T có đơn yêu cầu giải quyết v ng m t, căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử v ng m t bị hại.
Vào khoảng 19 giờ 00 ph t ngày 02/6/2021, tại khu trọ thuộc Tổ 43, khu phố C, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, Lê Văn Tr, Lê Minh T, Trần Trung H đã có hành vi lén l t chiếm đoạt tài sản 01 xe mô tô hiệu Wave Anpha màu xanh biển số 61D1-06176 (số máy 2866342, số khung 066299) trị giá 8.000.000 đồng của anh Trịnh Quốc T. Nhƣ vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm c p tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cao Văn N biết rõ xe mô tô hiệu Wave Anpha màu xanh biển số 61D1-06176 là tài sản do Lê Văn T chiếm đoạt của ngƣời khác mà có nhƣng vẫn gi p Tr mang đi bán lấy tiền tiêu xài. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành Tội tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có theo quy định tại Khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số 319/CT – VKS ngày 10 tháng 9 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là có căn cứ đ ng ngƣời, đ ng tội và đ ng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Các bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ng a chung.
Trong vụ án có đồng phạm, nhƣng là đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết ch t chẽ giữa các bị cáo trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội nên không coi là tội phạm có tổ chức. Bị cáo Lê Văn T là ngƣời đề xuất, trực tiếp mang xe đi tìm ngƣời bán và đƣợc hƣởng lợi t việc bán xe; bị cáo Hậu là ngƣời trực tiếp lấy xe, bị cáo Tâm là ngƣời gi p sức làm nhiệm vụ cảnh giới trong l c Hậu lấy xe.
Tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lê Văn Tr, Lê Minh T và Cao Văn N không có.
Bị cáo Trần Trung H vào ngày 02/4/2018 bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Cà Mau xử phạt 03 năm tù về Tội cƣớp tài sản và 09 tháng tù về tội trộm c p tài sản, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành là 03 năm 09 tháng, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/10/2020, đóng án phí năm 2020, chƣa đƣợc xóa án tích lại phạm tội mới là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; bị cáo Lê Văn Tr, Lê Minh T , Cao Văn N phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Các bị cáo là ngƣời nghiện ma t y; bị cáo Lê Minh T chƣa có tiền án tiền sự; bị cáo Lê Văn Tr, Trần Trung H và Cao Văn N có nhân thân xấu; bị cáo Lê Văn T và Lê Minh T trình độ học vấn thấp 01/12.
Trách nhiệm dân sự: Tài sản bị thiệt hại là xe mô tô biển số 61D1-06176 do chị Nguyễn Thị Bích P đứng tên giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy. Chị P đã bán lại cho anh Trịnh Quốc T vào năm 2013, nhƣng chƣa làm thủ tục sang tên. Anh Tài sử dụng và bị các bị cáo chiếm đoạt, hiện xe không thu hồi đƣợc, theo kết quả định giá tài sản bị thiệt hại trị giá 8.000.000 đồng, tại đơn yêu cầu giải quyết v ng m t, bị hại anh Trịnh Quốc T yêu cầu các bị cáo có trách nhiệm bồi thƣờng. Xét thiệt hại của bị hại là do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra nên cần tuyên buộc các bị cáo Lê Văn T, Lê Minh T và Trần Trung H có trách nhiệm bồi thƣờng cho bị hại là phù hợp với quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 587, 589 Bộ luật Dân sự.
Mức hình phạt, trách nhiệm dân sự và biện pháp tƣ pháp nhƣ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.
Đối với anh Phạm Ngọc L mua xe mô tô hiệu Wave Anpha màu xanh biển số 61D1-06176 (số máy 2866342, số khung 066299) nhƣng không biết tài sản do phạm tội mà có. Anh L bán xe trên cho ngƣời khác không rõ nhân thân. Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý anh L đồng thời tiếp tục truy tìm ngƣời mua xe t anh L.
Đối với đối tƣợng tên T (chƣa rõ nhân thân) mua 700.000 đồng ma t y gi p Tr, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố D đang tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau. Số ma t y đã sử dụng hết nên không có cơ sở xử lý hành vi Tàng trữ trái phép chất ma t y là đ ng quy định.
Việc Lê Văn Tr, Lê Minh T, Trần Trung H và Cao Văn N dƣơng tính với ma t y, các đối tƣợng khai có sử dụng trái phép chất ma t y, Công an thành phố D xử phạt hành chính mỗi bị cáo 750.000 đồng theo quy định tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/ND-CP ngày 11/12/2013 của Chính Phủ là đ ng quy định của pháp luật.
[[11] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T, Trần Trung H, Lê Minh T phạm tội Trộm c p tài sản.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn T 12 (mƣời hai) tháng tù, thời hạn tù tính t ngày 04/6/2021.
Xử phạt bị cáo Lê Minh T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính t ngày 04/6/2021.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Trung H 12 (mƣời hai) tháng tù, thời hạn tù tính t ngày 04/6/2021.
2. Tuyên bố bị cáo Cao Văn N phạm tội tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có.
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Cao Văn N 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính t ngày 04/6/2021.
3. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 587, 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Buộc các bị cáo Lê Văn T, Lê Minh T và Trần Trung H có nghĩa vụ liên đới bồi thƣờng cho bị hại Trịnh Quốc T số tiền 8.000.000 (tám triệu) đồng.
Kể t ngày ngƣời đƣợc thi hành án có yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Biện pháp tƣ pháp: Áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Buộc bị cáo Lê Văn T nộp lại 3.100.000 (ba triệu một trăm nghìn) đồng và Cao Văn N nộp lại 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng thu lợi bất chính để sung vào Ngân sách Nhà nƣớc.
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các bị cáo Lê Văn T, Trần Trung H, Lê Minh T, Cao Văn N, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo Lê Văn T, Trần Trung H, Lê Minh T có nghĩa vụ liên đới nộp 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng án phí dân sự bồi thƣờng.
Các bị cáo có m t đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể t ngày tuyên án. Bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án v ng m t đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể t ngày nhận đƣợc bản án ho c bản án đƣợc niêm yết theo quy định.
Bản án này đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo (04); - VKSND tp Dĩ An (01); - VKSND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Công an tp Dĩ An (01); - Trại tạm giam CA tỉnh BD (01); - Chi cục THADS tp Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01); - Phòng PV 27 CA tỉnh BD (01); - Phòng PC 81 CA tỉnh BD (01); - UBND nơi cƣ tr của bị cáo (01); - Ngƣời tham gia tố tụng (03); - Lƣu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Liễng |