vanban.org

Bản án 293/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 20/11/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/11/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố t ng hình sự;

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đinh Công H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 238/2020/HSST ngày 21/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột về hình ph t. [2] Áp d ng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, Điều 54; Bộ luật hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Công H tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố t ng hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 357 Bộ luật tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 293/2020/HS-PT
Ngày 20/11/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung.

Các Thẩm phán:

1. Ông Nguyễn Đình Triết.

2. Ông Văn Công Dần.

- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân t nh Đ k k.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2020, t i tr s Tòa án nhân dân t nh Đ k k xét xử phúc thẩm công khai v án hình sự th lý số: 287/2020/TLPT-HS ngày 07/10/2020 đối với bị cáo Đinh Công H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 238/2020/HS-ST ngày 21/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, t nh Đ k k.

* Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Đinh Công H; tên gọi khác: Không; sinh ngày 20 tháng 5 năm 1980; t i t nh Đ k L k;

Nơi cư trú: Thôn H, xã T, thành phố M, t nh Đ k L k; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ học vấn: 0/12; con ông Đinh Công Th và bà Bùi Thị H (đều đã chết); Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị B, sinh năm: 1986; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2013. Hiện đều trú t i: Thôn H, xã T, thành phố M, t nh Đ k L k;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp d ng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo t i ngo i, có mặt t i phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Đinh Công H: Bà H’ M Mlô - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước t nh Đ k k.

Địa ch : Số 39 đường K, thành phố M, t nh Đ k k.

Trong vụ án còn có người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm t t như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 25/11/2019, Đinh Công H (đã có giấy phép lái xe mô tô h ng A1), một mình điều khiển xe Mô tô biển số 47H7-30xx từ thôn M xã T về để về nhà t i thôn H, xã T, thành phố M. Do muốn đi nhanh nên H đã điều khiển xe lưu thông ngược chiều đường t i làn đường trong của phần đường một chiều, bên trái đường B, theo hướng từ Uỷ ban nhân dân xã T đến vòng xuyến Km5, với tốc độ khoảng 40 đến 45 km/h, có m đèn chiếu sáng phía trước xe, trời tối, không có mưa, đo n đường có đèn đường đang ho t động, mật độ phương tiện trên đường v ng. Khi đến trước tr điện số 105B đường B, thuộc xã T, thành phố M, H phát hiện phía trước có xe Mô tô biển số 36K4-58xx do ông Nguyễn Thanh , sinh năm 1973, điều khiển lưu thông t i làn đường trong cùng, đúng làn đường, phần đường theo hướng ngược chiều xe mô tô của H đang điều khiển đi tới. Do không làm chủ được tốc độ và đi không đúng làn đường và đi ngược chiều đường nên đã va ch m với xe Mô tô biển số 36K4-58xx, gây tai n n giao thông. Hậu quả ông Nguyễn Thanh L bị thương nặng và tử vong trên đường đưa đi cấp cứu, còn Đinh Công H thì bị thương nhẹ, 02 xe mô tô trên bị hư hỏng.

Về hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn: Hiện trường t i đo n đường trước tr điện số 105 đường B, thuộc thôn M, xã T, Thành phố M, t nh Đ k L k, là đo n đường đôi, thẳng, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, được chia thành hai phần đường bằng dải phân cách cố định bằng bê tông, bên trong có trồng cỏ và cây xanh, rộng 2,00m, cao 0,20m. Phần đường bên phải theo hướng từ đường Nguyễn Văn C, thành phố M về huyện K rộng 10,30m và được chia thành ba làn đường, làn đường bên phải rộng 2,65m được phân chia với làn đường giữa bằng v ch sơn tr ng, liền nét; làn đường giữa rộng 3,65m ngăn cách với làn đường bên trái bằng v ch sơn tr ng kẻ nét đơn, đứt quãng; làn đường bên trái rộng 4,00m. Khu vực hiện trường không có biển báo hiệu giao thông đường bộ và chướng ng i vật che khuất tầm nhìn người tham gia giao thông. Quá trình khám nghiệm hiện trường chọn gốc tr điện số 105B, đường Nguyễn ương B, thuộc thôn M, xã T, thành phố M làm mốc cố định; chọn mép đường bên phải, phần đường bên phải đường Nguyễn ương B, theo hướng từ đường Nguyễn Văn C, thành phố M về huyện K làm mép đường chuẩn.

Xe Mô tô biển số 47H7-30xx, do Đinh Công H điều khiển sau khi xảy ra v tai n n xe ngã nghiêng sang phải, đầu xe quay về hướng Tây B c, đuôi xe quay về hướng Đông Nam; Tâm tr c bánh xe trước cách mép đường chuẩn là 1,00m; Tâm tr c bánh xe sau cách mép đường chuẩn là 0,70m và cách mốc cố định là 3,60m.

Xe Mô tô biển số 36K4-58xx, do ông Nguyễn Thanh điều khiển sau khi xảy ra v tai n n xe nghiêng sang trái, đè lên phía trước bên trái xe (1), đầu xe quay về hướng Đông Nam, đuôi xe quay về hướng Tây B c; Tâm tr c bánh xe trước chiếu vuông góc với mặt đường, cách mép đường chuẩn là 0,60m và cách tr c bánh sau xe (1) 0,80m; Tâm tr c bánh xe sau chiếu vuông góc với mặt đường, cách mép đường chuẩn là 0,60m.

Vết cày xước, liền nét, có kích thước (0,30m x 0,01m, đầu vết cách mép đường chuẩn là 1,10m, cuối vết nằm mặt ngoài cần đ p phanh xe (1) tiếp giáp với mặt đường t i vị trí xe ngã, cách mép đường chuẩn 1,07m.

Vết màu nâu đỏ (nghi máu, nhỏ giọt nằm rải rác trong diện (1,20m x 0,60m, đầu vết cách mép đường chuẩn là 1,90m và cách tâm tr c bánh sau xe (1) là 1,20m.

Vị trí va ch m giữa xe Mô tô biển số 47H7-30xx với xe Mô tô biển số 36K4-58xx tương ứng với mặt đường Nguyễn ương B, t i phần đường một chiều bên phải, tính theo hướng từ vòng xuyên Km5 đến UBND xã T, cách mép đường chuẩn 1,00m cách tâm bánh trước xe Mô tô biển số 47H7-30xx là 0,70m và cách mốc cố định 4,85m.

Quá trình điều tra Cơ quan Công an đã t m giữ: 01 xe Mô tô biển số 47H7-30xx, nhãn hiệu: WARM, số máy: 152FMH 21021356, số khung: CLXNXAY-1102256; 01 Mô tô biển số 36K4-58xx, số máy: E432VN135749; số khung: BE49L040135749; 01 Giấy phép lái xe số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 28/6/2013 mang tên Đinh Công H.

T i bản Kết luận pháp y tử thi số 38/TTH-TTPY, ngày 31/12/2019 của Trung tâm Pháp y t nh Đ k L k kết luận: Nguyên nhân tử vong của ông Nguyễn Thanh là: Suy hô hấp, tuần hoàn do choáng tủy/Chấn thương nặng cột sống cổ/Nhiều thương tích do tai n n giao thông.

T i Bản tóm t t bệnh án điều trị nội trú số 146/TTBA-BVVTN, ngày 04/02/2020 của Bệnh viện đa khoa Vùng Tây Nguyên thể hiện kết quả xét nghiệm nồng độ cồn của Đinh Công H là: 146.9mg/100ml = 1.469 g/L.

Sau khi xảy ra v tai n n bị cáo Đinh Công H tự nguyện bồi thường tiền chi phí mai táng và tiền tổn thất tinh thần cho gia đình ông Nguyễn Thanh L, 60.000.000 đồng. Chị Võ Thị T, sinh năm 1976, là vợ và là người đ i diện hợp pháp của ông đã nhận đủ số tiền và có đơn bãi n i cho bị cáo và không còn yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 238/2020/HSST ngày 21/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã quyết định:

Căn cứ vào điểm a khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Khoản 8, khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 9 uật giao thông đường bộ;

Xử ph t: Bị cáo Đinh Công H 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày b t thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 26/8/2020, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t và xin hư ng án treo.

T i phiên tòa bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội của mình.

Đ i điện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi ph m tội của bị cáo và khẳng định: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên ph t bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Cấp sơ thẩm đã áp d ng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hư ng, như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi ph m tội của mình, sau khi gây tai n n bị cáo đã cố g ng kh c ph c hậu quả và bồi thường cho gia đình người bị h i, được gia đình bị h i bãi n i xin giảm nhẹ hình ph t, bị cáo có nhân thân tốt, không biết chữ, gia đình hoàn cảnh khó khăn được quy định t i điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51B HS. Tuy nhiên, mức hình ph t mà cấp sơ thẩm xử ph t bị cáo 03 năm tù là có phần nghiêm kh c. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt nên có cơ s chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình ph t.

Áp d ng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c Điều 357 B TTHS; điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 54; Bộ luật hình sự;

Đề nghị HĐXX chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về hình ph t. Xử ph t bị cáo từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù.

Người bào chữa cho bị cáo Đinh Công H tranh luận: Tòa án cấp sơ thẩm xử ph t bị cáo Đinh Công H về tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng người, đúng tội. Song mức hình ph t 03 năm tù có phần nghiêm kh c. B i lẽ, sau khi ph m tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi ph m tội của mình; tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị h i và được gia đình người bị h i làm đơn bãi n i; bị cáo là người dân tộc thiểu số, không biết chữ nên khả năng hiểu biết pháp luật có phần h n chế. Đây là các t nh tiết giảm nhẹ được quy định t i điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng thêm Điều 54 và Điều 65 Bộ luật hình sự để xử ph t bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình ph t mà bị cáo bị truy tố và cho bị cáo được hư ng án treo.

Bị cáo Đinh Công H đồng ý với quan điểm bào chữa của người bào chữa và không tranh luận gì với quan điểm của đ i diện Viện kiểm sát ch xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t và cho bị cáo được hư ng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo t i phiên toà phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo t i cơ quan điều tra, t i phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ v án. Như vậy, đã có đủ cơ s để kết luận: Vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 25/11/2019, t i trước tr điện số 105B đường Nguyễn ương B, thuộc xã T, thành phố M, Đinh Công H điều khiển xe Mô tô biển số 47H7-30xx, tham gia giao thông, trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định (146.9 mg/100ml), đi không đúng làn đường và đi ngược chiều đường Nguyễn ương B, thành phố M, nên đã tông vào xe Mô tô biển số 36K4-58xx, do ông Nguyễn Thanh điều khiển đi đúng phần đường. Hậu quả làm ông L tử vong trên đường đi cấp cứu. Do đó, cấp sơ thẩm xử ph t bị cáo về tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định t i điểm b khoản 2 Điều 260 B HS là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t và xin hư ng án treo của bị cáo, HĐXX thấy: Cấp sơ thẩm tuyên ph t bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, mức hình ph t mà cấp sơ thẩm áp d ng đối với bị cáo là có phần nghiêm kh c. B i lẽ, sau khi ph m tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi ph m tội của mình. Mặc dù gia đình hoàn cảnh khó khăn và thuộc hộ nghèo nhưng đã kh c ph c hậu quả và bồi thường cho gia đình bị h i, được gia đình bị h i bãi n i. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, không biết chữ nên khả năng nhận thức có phần h n chế. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó có cơ s chấp nhận đề nghị của Đ i diện viện kiểm sát và kháng cáo của bị cáo, nên cần áp d ng quy định t i khoản 1 Điều 54 B HS giảm nhẹ một phần hình cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố t ng hình sự;

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đinh Công H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 238/2020/HSST ngày 21/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột về hình ph t.

[2] Áp d ng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, Điều 54; Bộ luật hình sự;

Xử ph t: Bị cáo Đinh Công H 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bị cáo bị b t thi hành án.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đinh Công H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ